Thứ Hai, 14 tháng 9, 2015

   Trong 2 năm vừa qua, 6 vị lãnh đạo này đã nâng khống cung độ vận chuyển đất đá qua đó, lập khống chứng từ để Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam quyết toán khoảng 95 tỉ đồng rồi chia nhau tiền.
Theo tin tức trên báo Pháp luật TP.HCM, chiều 8/9, cơ quan cảnh sát điều tra (CSĐT), Bộ Công an cho biết đã tống đạt quyết định khởi tố bị can, khám xét nơi ở đối với 6 đối tượng nguyên lãnh đạo Công ty cổ phần than Tây Nam Đá Mài thuộc Tập đoàn công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam (VINACOMIN) về tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.

6 bị can bị khởi tố gồm: Phạm Văn Hà, 51 tuổi, nguyên Giám đốc; Phạm Cao Nghĩa, 56 tuổi cùng Đỗ Quang Hưng, 45 tuổi, Phó Giám đốc; Phạm Phú Mỹ, 51 tuổi, Trưởng phòng trắc địa, địa chất; Nguyễn Kiên Cường, 37 tuổi, Trưởng phòng kỹ thuật, sản xuất và Nguyễn Thị Thanh Bình, 43 tuổi, Phó trưởng phòng kế toán Công ty cổ phần Than Tây nam Đá mài.
6 lãnh đạo ngành than lập chứng từ khống, chia nhau 95 tỷ đồng
heo thông tin ban đầu, trong 2 năm qua, các bị can đã nâng khống cung độ vận chuyển đất đá qua đó, lập khống chứng từ để Tập đoàn công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam quyết toán khoảng 95 tỉ đồng.

Một phần số tiền này đưa vào quỹ lương của công ty để ăn chia theo chức danh. Hiện vụ án đang được cơ quan CSĐT Bộ Công an làm rõ hành vi gian dối và việc sử dụng số tiền nêu trên của các bị can, người có liên quan.

Cũng trong ngày 8/9, Công ty cổ phần than Tây Nam Đá Mài đã gửi công văn số 172TB/TN lên Uỷ ban chứng khoán Nhà nước để công bố thông tin bất thường.

Cụ thể, nội dung công văn thông báo việc cơ quan CSĐT Bộ Công ra văn bản thông báo số 250 và 254 ngày 3/9/2015 về việc tống đạt quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh bắt tạm giam có thời hạn đối với bị can bị can Đỗ Quang Hưng (45 tuổi), chức vụ phó giám đốc Công ty và khởi tố bị can, cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị can Phạm Cao Nghĩa, Phó Giám đốc công ty.

Hiện vụ án đang được cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an làm rõ hành vi gian dối và việc sử dụng số tiền nêu trên của các bị can, người có liên quan.

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2015

Xuất phát từ nhu cầu hằng ngày là “nấu gì cho bữa tối ?” ông bố 30 tuổi đã thành lập một trang web chuyên phục vụ các bữa ăn, trở thành người có tầm ảnh hưởng nhất Thung lũng Sillicon.
Trang web ẩm thực trực tuyến có tên là Munchery. Ảnh: Bizlive
Phần mềm ẩm thực trực tuyến Munchery hẳn không quá xa lạ với thị trường thức ăn nhanh tại Mỹ . Vậy nhưng không phải ai cũng biết về những nhà sáng lập và con đường đưa Munchery đến gần với thị trường khó tính này.
Giám đốc điều hành Trí Trần (bên phải) và Giám đốc công nghệ Conrad Chu (bên trái). Ảnh: Bizlive
Munchery được thai nghén bởi hai doanh nhân người Mỹ gốc Việt Trí Trần và Conrad Chu. Hai người gặp nhau lần đầu tiên vào năm 2003, khi cùng là đồng nghiệp tại GetActive. Sau một thời gian, mỗi người họ lại chuyển sang những công ty khác nhau. Chỉ đến năm 2010, khi Trí Trần bắt đầu xây dựng công ty với ý tưởng mới thì hai ông bố 30 tuổi Trí Trần và Conrad Chu mới bắt tay cùng hợp tác.
Ý tưởng xây dựng Munchery đến với Trí Trần rất tình cờ vào năm 2010, trong một lần ông bố được giao nhiệm vụ sẽ nấu ăn cho gia đình gồm ông, vợ ông và hai cậu con trai. Nhưng một câu hỏi lớn không phải chỉ riêng ông mà của phần đông đó là “nấu gì cho bữa tối ? “
Hàng xóm của ông là một đầu bếp chuyên nghiệp, thường xuyên được thuê về các gia đình để nấu các bữa ăn với các món ăn đa dạng từ 6 đến 10 món, những món ăn có thể được để trong tủ lạnh và sử dụng dần. Tuy nhiên, giá cả của những lần thuê đầu bếp như thế thường khá cao, dao động từ 700 đến 800 USD, và không phải ai cũng chi trả được.
Với những nhu cầu cấp thiết đó ông đã bắt đầu nảy sinh ý tưởng thành lập Munchery, một Etsy hay Uber trong lĩnh vực ẩm thực. Dựa vào những kiến thức và kinh nghiệm trong công nghệ, ông đã xây dựng nên một trang web chuyên cung cấp dịch vụ đặt các món ăn trực tuyến với chi phí rẻ hơn nhiều so với việc thuê đầu bếp về nhà.
Vào mùa xuân năm 2011, Munchery chính thức đi vào hoạt động, được đặt trụ sở tại San Francisco. Giám đốc điều hành chính là doanh nhân Trí Trần và giám đốc phụ trách công nghệ là doanh nhân Conrad Chu. Để đẩy mạnh tiếp thị và truyền thông đến với thị trường, họ thuê Michael Schaecher, người từng phụ trách mảng tiếp thị tại Airbnb.
Bên cạnh đội ngũ quản lý chính, Munchery cũng rất coi trọng và tuyển chọn kỹ lưỡng các vị trí khác. Họ có ba kỹ sư phần mềm toàn thời gian, một nhiếp ảnh gia chính, hai nhà thiết kế , một người chuyên quản lý ẩm thực làm việc tại San Francisco, một chuyên viên chăm sóc khách hàng và một cộng tác viên nhằm phát triển kinh doanh.
Công ty chuyên cung cấp dịch vụ đặt món ăn trực tuyến, đầy đủ các món khai vị, món chính, món tráng miệng cho tới các loại đồ uống và thức ăn riêng dành cho trẻ em. Khác với những trang web ẩm thực khác, thay vì khách hàng phải đặt món từ các bên thứ ba như các nhà hàng hay các đầu bếp ngoài thì tại Munchery các món ăn được cung cấp trực tiếp bởi đầu bếp riêng, làm việc ngay tại trụ sở công ty.
Các món ăn đa dạng tại Munchery. Ảnh: Website Munchery.
Theo thông tin trên Business Insider, báo cáo định kỳ hàng tháng của Munchery cho thấy công ty đã phục vụ trung bình 60.000 bữa ăn, nghĩa là trong mỗi phút bán ra được nhiều hơn một món ăn.  Mỗi năm, công ty thu về hàng triệu USD.
Cũng trong năm 2011, Munchery đã huy động được lên tới 39,9 triệu USD đến từ các nhà đầu tư chính như Menlo Ventures, Justin Mateen. Và mới đây nhất là số vốn đầu tư liên doanh 85 triệu USD huy động được.
Chính ý tưởng và việc xây dựng một trang web chuyên phục vụ hàng triệu người truy cập, phục vụ hàng nghìn đơn đặt hàng mỗi ngày như Munchery đã đưa Trí Trần và Conrad Chu vào danh sách 100 nhân vật có tầm ảnh hưởng nhất Thung lũng Sillicon.
Và trong tương lai không xa, hai doanh nhân ngươi Mỹ gốc Việt này kỳ vọng rất nhiều vào sự phát triển vượt bậc cũng như sự đón nhận của thị trường sẽ đưa Munchery trở thành “McDonald’s thứ 2”.

Thứ Năm, 6 tháng 8, 2015

   Nhà đầu tư nước ngoài khi quyết định đầu tư kinh doanh nhập khẩu và phân phối mỹ phẩm tại Việt Nam (không tính mỹ phẩm xách tay) cần phải tìm hiểu rõ các quy định đầu tư cũng như các quy trình cấp phép đầu tư với ngành nghề này. Tại Việt Nam, mỹ phẩm là mặt hàng không khuyến khích nhập khẩu nên để được cấp phép nhập khẩu với mặt hàng này thủ tục sẽ phức tạp hơn nhiều so với các mặt hàng khác. Công ty Việt Luật với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực đầu tư, chúng tôi cam kết sẽ hỗ trợ tối đa để công việc của quý khách hàng đạt được hiệu quả trong thời gian sớm nhất.

Thành lập doanh nghiệp kinh doanh mỹ phẩm

1. Quy định về thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

   Để thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, hồ sơ đầu tư phải trải qua các công đoạn đăng ký hoặc thẩm tra dự án đầu tư nước ngoài với các cơ quan có thẩm quyền. Tùy thuộc vào địa chỉ đặt trụ sơ công ty, cơ quan cấp phép khác nhau có thể là ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất.

   Kinh nghiệm nhiều năm hoạt động trong dịch vụ cấp phép đầu tư tại Việt Nam cho thấy, mặc dù thời gian để được cấp giấy chứng nhận đầu tư là 45 ngày tuy nhiên trên thực tế quy trình cấp phép thường kéo dài hơn do cơ quan cấp phép phải tham vấn ý kiến với nhiều bộ ngành có liên quan. Đối với các dự án đầu tư có quy mô vốn từ 300 tỷ đồng trở lên, Nhà đầu tư có nghĩa vụ phải lập Báo cáo giải trình tính khả thi của dự án đầu tư.

Thông thường, khả năng cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho một dự án có vốn đầu tư nước ngoài thường được dựa trên các yếu tố cơ bản như sau:

a. Lộ trình mở cửa thị trường theo quy định tại cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, khung quy định pháp lý của các Luật đầu tư Việt Nam, Luật doanh nghiệp Việt Nam và các quy định pháp luật liên quan đến từng ngành nghề cụ thể cũng như quy hoạch phát triển kinh tế tại các thành phố, tỉnh nơi Công ty vốn nước ngoài dự định đặt trụ sở.

Khả năng tài chính, vốn đầu tư của dự án, cơ sở vật chất và nguồn nhân lực phục vụ cho việc thực hiện Dự án đầu tư tại Việt Nam.

b. Thủ tục cấp phép thành lập

Trong trường hợp này, việc xin phép thành lập Công ty vốn nước ngoài để thực hiện quyền nhập khẩu mỹ phẩm sẽ được thực hiện theo lộ trình với các bước như sau:

Chuẩn bị hồ sơ cấp Giấy chứng nhận đầu tư: Chúng tôi sẽ thu thâp thông tin và tài liệu cần thiết từ Quý Khách hàng. Sau khi nhận được thông tin cần thiết từ Quý Khách hàng, chúng tôi sẽ dịch tài liệu từ tiếng Anh sang tiếng Việt (nếu cần thiết) và chuẩn bị hồ sơ theo quy định của pháp luật cũng như theo yêu cầu của cơ quan chức năng.

Hồ sơ đăng ký sẽ được gửi tới Quý Khách hàng để rà soát và cho ý kiến nếu cần

sửa đổi, bổ sung những nội dung trong hồ sơ đăng ký. Sau khi cập nhật hồ sơ dựa trên ý kiến của Quý Khách hàng, chúng tôi sẽ xin ý kiến sơ bộ của của cơ quan chức năng về hồ sơ đăng ký.

Cuối cùng, chúng tôi sẽ gửi toàn bộ hồ sơ để Quý Khách hàng ký.

Thời hạn để hoàn tất bước này dự kiến 20 ngày làm việc.

Thủ tục trước cấp phép: Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ và tài liệu đã ký của Nhà đầu tư, chúng tôi sẽ nộp hồ sơ lên cơ quan có thẩm quyền để tiến hành xin cấp giấy chứng nhận đầu tư. Tùy thuộc vào danh mục cụ thể các sản phẩm mỹ phẩm dự kiến nhập khẩu, cơ quan đầu mối tiếp nhận hồ sơ có thể gửi công văn xin ý kiến thẩm tra của các Bộ ngành liên quan, bao gồm Bộ Kế hoạch và Đầu tư,

Bộ công thương, Bộ y tế, Bộ tài chính và Sở công thương thành phố Hà Nội

Thời gian để hoàn tất các thủ tục thẩm tra đến khi cấp phép có thể kéo dài từ 3-4 tháng kể từ ngày nộp hồ sơ lên cơ quan đầu mối tiếp nhận hồ sơ.

Thủ tục sau cấp phép: Trong vòng 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Giấy chứng nhận đầu tư, chúng tôi sẽ hoàn thành thủ tục sau cấp phép như đăng bố cáo thành lập Công ty, đăng ký mã số thuế, đăng ký con dấu.

 2. Phạm vi dịch vụ của chúng tôi bao gồm:

- Chuẩn bị các tài liệu trong hồ sơ đơn:
- Thông báo cho khách hàng về các tài liệu cần thiết;
- Dự thảo các tài liệu trong hồ sơ xin cấp phép bao gồm đơn, giấy ủy quyền, nghị quyết của Ban giám đốc bằng tiếng Anh;
- Trao đổi với khách hàng trong việc soạn thảo các tài liệu;
- Điều chỉnh hồ sơ dựa trên ý kiến của khách hàng;
- Tiếp thu ý kiến của các cơ quan có thẩm quyền;
- Hoàn thiện hồ sơ trên cơ sở nhận xét của cơ quan có thẩm quyền
- Dịch các tài liệu sang tiếng việt để ký
- Thủ tục trước cấp phép:
- Nộp hồ sơ lên cơ quan có thẩm quyền cấp phép;
- Theo dõi hồ sơ trong quá trình nhận sự chấp thuận từ cơ quan có thẩm quyền;
- Cập nhật cho khách hàng về tiến trình cũng như những yêu cầu thêm, nếu có và hỗ trợ khách hàng trong việc nhận được chấp thuận chủ trương của Ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố nơi Công ty đặt trụ sở.

Thủ tục cấp phép:

-Nộp hồ sơ lên cơ quan có thẩm quyền cấp phép;
-Theo dõi hồ sơ trong quá trình nhận sự chấp thuận từ cơ quan có thẩm quyền;
-Cập nhật cho khách hàng về tiến trình cũng như những yêu cầu thêm, nếu có và hỗ trợ khách hàng trong việc nhận được Giấy chứng nhận đầu tư cho Công ty.

Thủ tục sau cấp phép:

Thông báo về việc thành lập Công ty trên báo;
Đăng ký mã số thuế;
Đăng ký mẫu dấu
Thời điểm này, Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp mới vẫn đang chờ văn bản hướng dẫn. Để rộng đường dư luận, Báo Đầu tư Online - Baodautu.vn xin lược đăng ý kiến của luật sư Vũ Thị Quế và luật sư Nguyễn Thị Hồng Thắng (Công ty Luật Rajah & Tann LCT Lawyers) về Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp mới đối với hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (M&A)
Với mong muốn luật đi vào cuộc sống, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch M&A, khi xây dựng văn bản hướng dẫn, các cơ quan soạn thảo cần xem xét một số vấn đề dưới đây:

Ngành nghề kinh doanh

Theo Luật Doanh nghiệp cũ và mới, các công ty có quyền lựa chọn ngành nghề kinh doanh theo mã ngành. Tuy nhiên, trong trường hợp ngành nghề kinh doanh không có trong danh sách mã ngành, thì hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và giấy chứng nhận đầu tư thường bị trả lại cho công ty và buộc phải áp mã khác gần giống với ngành nghề nhà đầu tư đăng ký, nếu không, cơ quan nhà nước sẽ từ chối cấp phép cho doanh nghiệp. Thủ tục cấp phép, vì thế, không thể ngắn vì “thói quen” áp mã ngành của các chuyên viên cấp phép.
Thị trường M&A sẽ thuận lợi hơn khi những chính sách mới sớm được thực hiện
Trong khi đó, Luật Doanh nghiệp cho phép nhà đầu tư được quyền kinh doanh các ngành, nghề mà luật không cấm hoặc hạn chế đầu tư. Cũng nên hiểu rằng, việc đăng ký kinh doanh theo mã ngành chỉ nhằm tạo tiện lợi cho việc quản lý hành chính nội bộ của cơ quan cấp phép. Vì vậy, thủ tục cấp phép không nên bị kéo dài vì “thói quen” áp mã ngành của các chuyên viên cấp phép.
Ngoài ra, khi các nhà đầu tư muốn đầu tư vào các ngành nghề có điều kiện hoặc Việt Nam không cam kết theo WTO, cơ quan cấp phép luôn gửi văn bản xin ý kiến cơ quan trung ương. Nhưng trong một số trường hợp, dù các bộ chấp thuận, thì cơ quan địa phương cũng từ chối cấp phép cho nhà đầu tư. Để tránh sự bất cập và gây rất nhiều khó khăn cho nhà đầu tư, Chính phủ nên có văn bản hướng dẫn cụ thể về quy trình này.

Điều chỉnh giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và giấy chứng nhận đầu tư
Theo Luật Doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có 5 nội dung chính: tên công ty, mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính, người đại diện theo pháp luật, và vốn điều lệ. Khi doanh nghiệp muốn điều chỉnh bất kỳ nội dung nào, thì phải đăng ký với cơ quan cấp phép.
Được biết, khi các doanh nghiệp (đã có giấy chứng nhận đầu tư trước ngày 1/7/2015) nộp hồ sơ thay đổi các nội dung nêu trên, cơ quan cấp phép yêu cầu công ty phải tách giấy chứng nhận đầu tư thành giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trước. Nhưng thủ tục tách như thế nào thì luật đang im lặng, do đó, đa số cơ quan cấp phép đều đề nghị các doanh nghiệp chờ đến khi có văn bản hướng dẫn của Chính phủ.

Con dấu doanh nghiệp
Theo Luật Doanh nghiệp mới, thủ tục cấp con dấu đã được quy định thoáng hơn. Tuy nhiên, việc chuyển từ luật cũ sang luật mới gây không ít hoang mang và lúng túng cho cả nhà đầu tư và cơ quan cấp phép.
Như nêu trên, để thành lập doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài phải có được  giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và  giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Chỉ những doanh nghiệp nào được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mới có thể khắc dấu (vì mã khắc dấu chính là mã số doanh nghiệp được ghi nhận trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp).
Quy định trên đặt các doanh nghiệp vừa được cấp giấy chứng nhận đầu tư, nhưng không có  giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (nộp hồ sơ thành lập trước ngày 1/7/2015) vào thế khó, vì cơ quan cấp phép không cho đăng ký mẫu dấu và yêu cầu doanh nghiệp phải nộp hồ sơ để được cấp  giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trước.
Để tránh tình trạng “quả trứng hay con gà có trước”, nên chăng cơ quan chức năng cho phép các doanh nghiệp này khắc dấu theo số giấy chứng nhận đầu tư và sẽ thay đổi sau khi doanh nghiệp được cấp  giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Dự thảo nghị định hướng dẫn thực hiện Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư đang được điều chỉnh và sẽ sớm được ban hành. Hy vọng các văn bản này sẽ khắc phục được những bất cập và giúp cho hành lang pháp lý về đầu tư kinh doanh thêm minh bạch, thông thoáng và khả thi hơn. Như vậy, nhà đầu tư mới yên tâm rót vốn vào thị trường Việt Nam và thị trường M&A sẽ thuận lợi hơn.http://thanhlapdoanhnghieptrongoi.com/dich-vu-thanh-lap-cong-ty-100-von-nuoc-ngoai
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) được nhận định sẽ có tác động lớn đến kinh tế vĩ mô, tăng trưởng kinh tế, tới từng doanh nghiệp và người tiêu dùng.

Với bài học từ WTO, cần phải có sự chuẩn bị thật kỹ để tận dụng được những cơ hội mà TPP mang lại. TS. Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) nêu quan điểm.

Kịch bản cho Việt Nam
- VEPR vừa công bố Báo cáo nghiên cứu về đánh giá tác động của TPP đến Việt Nam. Xin ông cho biết những kết luận chính của bản nghiên cứu là gì?

- Nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra 6 tác động lớn nhất của TPP vào nền kinh tế Việt Nam.

Thứ nhất, nhập khẩu gia tăng trong khi xuất khẩu có xu hướng giảm.

Thứ hai, khi TPP được thực thi, các dòng thuế quan sẽ giảm dần về 0% khiến doanh thu về thuế giảm.

Thứ ba, việc tham gia TPP không chỉ đòi hỏi các nước cắt giảm các hàng rào thuế quan, mà còn đòi hỏi cắt giảm hàng rào phi thuế quan như chi phí vận chuyển, thủ tục chờ đợi nhập khẩu...

Thứ tư, Việt Nam sẽ không còn lợi thế về lao động giá rẻ, khi nhu cầu về lao động có kỹ năng tăng lên, và không thể duy trì được tăng trưởng kinh tế trong nước giống như trường hợp của Trung Quốc hiện nay. Sự dịch chuyển tự do của lao động không chỉ trong nước mà cả giữa các nước, đầu tư mạnh vào giáo dục.

Thứ năm, các nước sẽ có xu hướng áp dụng các hàng rào kỹ thuật thay thế, để bảo vệ các ngành sản xuất nội địa của mình. Trong bối cảnh chất lượng các sản phẩm của Việt Nam chưa cao, vấn đề này sẽ hạn chế xuất khẩu.

Thứ sáu, với những ưu đãi khi gia nhập TPP, đầu tư của Việt Nam sẽ tăng mạnh với sự gia tăng của các dòng thương mại, các nước trong khối sẽ tăng cường đầu tư trực tiếp vào Việt Nam.

- Vậy kịch bản nào cho nền kinh tế Việt Nam sau TPP, thưa ông?

- Đối với toàn bộ nền kinh tế, trong hầu hết các kịch bản mô phỏng sử dụng mô hình GE, Việt Nam là nước có được mức thay đổi GDP lớn nhất tính theo %.

Tuy nhiên, tác động từ Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) chỉ ở mức nhỏ, trong khi ảnh hưởng của TPP lên nền kinh tế là lớn hơn nhiều lần.

Về đầu tư, mức tăng đầu tư của Việt Nam là ấn tượng nhất trong các nước, xấp xỉ mức tăng của Nhật Bản và gần gấp đôi Australia, Malaysia và Mỹ (tính theo giá trị).

Trong khi đó, nhóm các nước nằm ngoài AEC và TPP sẽ bị suy giảm đầu tư, đặc biệt là Trung Quốc và EU.
TS. Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng VEPR.
Trong các kịch bản đánh giá tác động khi TPP có hiệu lực, kết quả mô phỏng cho thấy, thương mại Việt Nam với các nước TPP tăng lên, còn đối với các nước ngoài TPP, lại có xu hướng tăng nhập khẩu và giảm nhẹ xuất khẩu.

Không nên quá tự mãn
- Bên cạnh triển vọng cho nền kinh tế, TPP cũng tiềm ẩn những rủi ro?
- Trước đây, Việt Nam gia nhập WTO đã từng nhận được rất nhiều kỳ vọng. Xuất khẩu và đầu tư nước ngoài tăng trưởng mạnh mẽ, nhưng nguồn vốn lớn ồ ạt đổ vào Việt Nam đi kèm với chính sách tiền tệ thiếu kinh nghiệm, đã góp phần thổi phồng bong bóng bất động sản, và khiến lạm phát hai chữ số trở lại những năm 2008-2011.
Sự phụ thuộc lớn của Việt Nam vào nhập khẩu và đầu tư nước ngoài và những yếu kém nội tại kéo dài giai đoạn hậu WTO, đã gióng lên hồi chuông rằng, Việt Nam không nên quá tự mãn với việc ký kết những FTA đầy hứa hẹn như TPP, hay ở mức độ thấp hơn như AEC.
Hiện nay, TPP đang được đàm phán rất nhanh, nếu không chuẩn bị kỹ, những lợi thế và bất lợi của TPP sẽ đan xen vào nhau, dẫn đến những mất kiểm soát.
Khi TPP được ký kết và thực thi, những ngành kém lợi thế, sức cạnh tranh yếu sẽ bị thiệt hại ở nhiều mức độ khác nhau. Đặc biệt với các ngành chăn nuôi, lâm nghiệp, sản phẩm gỗ, khai khoáng, công nghiệp.
Khi TPP được thực thi, các dòng thuế quan sẽ giảm dần về 0% khiến doanh thu về thuế giảm. Điều này ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách, khiến cho Chính phủ có thể tìm cách bù đắp nguồn thâm hụt nhằm giữ ổn định ngân sách.
Tuy nhiên, một số chính sách có thể cản trở nỗ lực hồi phục nền kinh tế, tăng khả năng xảy ra bất ổn định kinh tế vĩ mô.

- Theo ông, Việt Nam cần có những chính sách gì để đối phó với những tác động xấu từ TPP?

- Việc thực hiện theo các cam kết trong TPP đòi hỏi những thay đổi về chính sách và pháp luật trong nước. Việt Nam cần có những chính sách hỗ trợ pháp lý để thúc đẩy phát triển những ngành có lợi thế so sánh.

Với những ngành sẽ được lợi sau khi TPP có hiệu lực, như: dệt may, thủy sản, nông sản... cần chủ động các nhân tố lao động, vốn, đất đai và các tài nguyên khác. Với các ngành kém được lợi thế như chăn nuôi, lâm nghiệp, công nghiệp... cần tái cơ cấu để tăng năng suất, hiệu quả hơn
Nhà nước cần có những chính sách hợp lý khuyến khích sản xuất và tiêu dùng. Các chính sách nên tập trung vào chi tiêu thường xuyên.

Đặc biệt, sau khi tham gia TPP, Việt Nam cần phải điều chỉnh cả những yếu tố thương mại như những nội dung liên quan tới lao động, quyền sở hữu trí tuệ... khẳng định sự cấp thiết phải tiến hành cải cách thể chế, tự do hóa thị trường các yếu tố đầu vào như lao động, vốn, đất đai.

Thứ Năm, 23 tháng 7, 2015

Để phát triển ngành công nghiệp được đánh giá là non trẻ với Việt Nam, nền kinh tế đã và đang phải “trả giá” không ít.
Để phát triển ngành công nghiệp được đánh giá là non trẻ với Việt Nam, nền kinh tế đã và đang phải “trả giá” không ít.Với dự án đầu tiên, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất (Quảng Ngãi), đơn vị quản lý là Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Lọc hóa dầu Bình Sơn được hưởng cơ chế thu điều tiết. Cụ thể, so với các doanh nghiệp nhập khẩu xăng - dầu, khí hóa lỏng (LPG), Công ty Bình Sơn được giảm 7% thuế nhập khẩu đối với xăng - dầu, 5% với LPG, 3% với sản phẩm hóa dầu (xăng dầu do Dung Quốc sản xuất vẫn phải nộp thuế nhập khẩu).

Mức ưu đãi này được áp dụng từ năm 2009 và sẽ kéo dài đến năm 2018. Ngoài ra, Công ty Bình Sơn còn được hưởng ưu đãi thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 10% trong thời gian 30 năm (nhiều hơn 15 năm so với các doanh nghiệp khác trong khu kinh tế Dung Quất); được miễn thuế bốn năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong thời gian chín năm tiếp theo từ năm đầu tiên Công ty Bình Sơn có thu nhập chịu thuế từ dự án Nhà máy Lọc dầu Dung Quất.

Nhà máy đi vào hoạt động và đang đóng góp lớn cho ngân sách của tỉnh Quảng Ngãi. Điều này đã tạo ra một cuộc chạy đua giữa các địa phương nhằm thu hút đầu tư các dự án lọc, hóa dầu. Đến nay, cả nước đã có tám dự án lọc, hóa dầu trải dài từ Thanh Hóa đến Cần Thơ dù theo chiến lược phát triển ngành dầu khí Việt Nam tới năm 2020 (ban đầu) chỉ có ba nhà máy lọc, hóa dầu tại Quảng Ngãi, Thanh Hóa và Bà Rịa - Vũng Tàu.
Đã qua 7 năm lọc dầu Dung Quất vẫn chưa có khả năng cạnh tranh với các dự án nước ngoài. Ảnh: Trí Tín
Ngoài Nhà máy Dung Quất và một nhà máy có quy mô nhỏ có tên Cát Lái ở TP HCM đang hoạt động thì còn có thêm sáu dự án khác. Cụ thể, đó là dự án lọc dầu Nghi Sơn (Thanh Hóa), Vũng Rô (Phú Yên), Nam Vân Phong (Khánh Hòa), Nhơn Hội (Victory, Bình Định), Long Sơn (Bà Rịa - Vũng Tàu) và một dự án tại Cần Thơ.
Vấn đề là, Dung Quất đã được hưởng ưu đãi thì các dự án sau đó cũng muốn được những quyền lợi tương tự. Và không ai khác, chính các chính quyền địa phương đã tham gia cùng các chủ đầu tư “chạy” xin ưu đãi, như một cách để thu hút dự án tỉ đô về cho địa phương mình.
Đơn cử là trường hợp dự án tổ hợp lọc, hóa dầu Nhơn Hội. Thông qua chính quyền địa phương, chủ đầu tư là tập đoàn Dầu khí Thái Lan (PTT) và tập đoàn Dầu mỏ Saudi Aramco của Ảrập Saudi mong muốn Chính phủ áp dụng cơ chế ưu đãi cho dự án này như những dự án đang được triển khai tại Việt Nam. Đây được coi là một trong những điều kiện quan trọng để chủ đầu tư quyết định có thực hiện dự án hay không.
Sau nhiều tranh cãi và phản đối của các bộ ngành, cuối cùng, vào cuối năm 2014, Thủ tướng đã phê duyệt bổ sung dự án này vào quy hoạch chung phát triển ngành dầu khí Việt Nam đến năm 2025. Cùng với đó, Thủ tướng chấp thuận một số ưu đãi đầu tư mà tỉnh Bình Định và Bộ Tài chính đề xuất.
Cụ thể, dự án sẽ thuộc danh mục đặc biệt khuyến khích đầu tư và được hưởng thuế thu nhập doanh nghiệp mức 10% trong 15 năm, miễn thuế trong bốn năm đầu, giảm 50% số thuế phải nộp trong chín năm tiếp theo. Ngoài ra, dự án cũng được miễn tiền thuê đất và thuế nhập khẩu dầu thô cũng như các thiết bị, máy móc, vật tư mà trong nước chưa sản xuất... Riêng thuế xuất khẩu sản phẩm sẽ được xem xét trong giai đoạn thu xếp vốn.
Ngoài ưu đãi trực tiếp, một số địa phương có dự án lọc hóa dầu còn kiến nghị ngân sách trung ương hỗ trợ vốn giải phóng mặt bằng với số tiền lên đến hàng trăm hoặc hàng nghìn tỷ đồng mỗi dự án. Cơ sở của đề xuất này là Quyết định 126 của Thủ tướng ban hành năm 2009, quy định với các dự án lớn, có quy mô vốn trên 20.000 tỷ đồng, ở các khu kinh tế ven biển thuộc vùng có điều kiện khó khăn thì Nhà nước sẽ hỗ trợ nguồn vốn xây dựng hạ tầng.
Theo Giáo sư Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổng công suất thiết kế của các dự án lọc, hóa dầu lên tới gần 65 triệu tấn mỗi năm, vượt xa nguồn cung dầu thô khai thác trong nước. Lượng khai thác dầu thô trong nước tối đa chỉ đạt khoảng 15 triệu tấn mỗi năm. Như vậy để vận hành, Việt Nam phải nhập tới 45-50 triệu tấn dầu để sản xuất ra thành phẩm. 
“Các nước đi trước chúng ta đã phải chịu rất nhiều hậu quả do phát triển công nghiệp hóa dầu: ô nhiễm môi trường, khí thải nhà kính và quan trọng là sử dụng nhiều tài nguyên đất đai... Do đó, việc phát triển công nghiệp khai khoáng, lọc hóa dầu cần ở mức độ vừa phải”, ông Mại nói.
Ở thời điểm hiện tại, trong các dự án lớn, chỉ mới có Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đi vào hoạt động. Thế nhưng, những cái mất của nền kinh tế đã lên đến hàng chục ngàn tỉ đồng.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh, cái giá phải trả cho một số kết quả đáng ghi nhận mà Dung Quất tạo ra (như đã làm chủ công nghệ lọc dầu nhiên liệu, hình thành được đội ngũ cán bộ, công nhân có nghề trong lĩnh vực này) là không hề nhỏ, bao gồm chi phí trực tiếp và chi phí cơ hội.
Chi phí trực tiếp ở đây là các khoản ưu đãi, mà thực chất là những khoản thuế mà Nhà nước đáng lẽ được nhận nếu không có Dung Quất. Còn chi phí cơ hội đó là 3,5 tỷ đôla Mỹ nếu không đầu tư vào Dung Quất mà được đầu tư vào các dự án khác có lợi thế cạnh tranh hoặc những dự án có tính lan tỏa lớn như cơ sở hạ tầng thì có thể đã tác động thúc đẩy kinh tế tăng trưởng lớn hơn.
Tính toán theo số liệu đã được tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) công bố thì tổng số ưu đãi từ năm 2010-2014 mà Dung Quất nhận được khoảng 26.550 tỷ đồng (riêng năm 2014, chỉ mặt hàng xăng và dầu diesel, mức ưu đãi mà Bình Sơn nhận được không nhỏ hơn 2.900 tỷ đồng).
Theo Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh, giả sử số ưu đãi từ nay đến năm 2018 vẫn không tăng thì trong thời kỳ 2010-2018, ưu đãi phải dành cho Dung Quất không ít hơn 2 tỷ đôla Mỹ (khoảng 43.600 tỷ đồng tính theo tỷ giá ở thời điểm này). “Nếu kéo dài đến năm 2027 thì số tiền ưu đãi phải lớn gấp nhiều lần. Và nếu Dung Quất không thể cạnh tranh mà không có ưu đãi thì chi phí để có ngành lọc, hóa dầu là con số lớn không có điểm dừng”, Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh nhận định.
Vấn đề là, nguy cơ phải bảo hộ Dung Quất dài dài rất hiện hữu. Bởi lẽ, đã qua bảy năm nhưng Dung Quất vẫn chưa có khả năng cạnh tranh được với các dự án nước ngoài.
Theo số liệu của PVN, tính từ 2010 - thời điểm Dung Quất đi vào hoạt động đến năm 2014, doanh nghiệp này đã lỗ gần 1.050 tỷ đồng. Nếu không có ưu đãi, thì con số lỗ lũy kế năm năm vừa qua xấp xỉ 27.600 tỷ đồng. Một con số quá lớn so với túi tiền quốc gia.
Theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn

Thứ Ba, 21 tháng 7, 2015

Việc cho phép nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) được mua cổ phần không hạn chế tại DN VN theo Luật DN mới đang gây nhiều ý kiến trái chiều nhau…

Tuy nhiên, ông Nguyễn Đình Cung –Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương lại cho rằng cần phải tạo điều kiện tốt nhất cho nhà đầu tư để hút vốn ngoại, đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa vào giai đoạn tới…

Vậy theo ông với chính sách nới room hiện nay, TTCK VN đã đủ mạnh?

“Nới room” có lẽ là hai từ được nhà ĐTNN và cả trong nước mong mỏi từ nhiều năm nay. Việc mở room cho các nhà đầu tư ngoại chính là một trong những chính sách thu hút mạnh mẽ hơn dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đầu tư vào thị trường chứng khoán (TTCK). Đây cũng là định hướng được Chính phủ theo đuổi suốt thời gian qua, đồng thời phù hợp với các cam kết quốc tế (WTO).
Hiện nay, VN có 91 triệu dân, nhưng mức vốn hóa của TTCK chỉ khoảng 46 tỷ USD, tương đương 25% GDP. Trong khi đó, Philippines, với 99 triệu dân, vốn hóa của thị trường chứng khoán khoảng 184 tỷ USD, tương đương 65% GDP; Thái Lan, với 69 triệu dân, vốn hóa của TTCK khoảng 418 tỷ USD, tương đương 112% GDP; Singapore với 5 triệu dân, mức vốn hóa của TTCK khoảng 415 tỷ USD…
Với quy mô còn khiêm tốn như trên, TTCK hiện tại của VN sẽ không đủ mạnh để hỗ trợ quá trình CPH. Tổng giá trị các DN nhà nước (DNNN) sẽ được CPH trong 3 năm tới ước tính khoảng 25 tỷ USD.
Như vậy, Chính phủ ban hành Nghị định 60/2015, không chỉ có tác động tích cực đến sự phát triển của TTCK, mà còn thúc đẩy quá trình CPH mà Chính phủ đang quyết liệt triển khai. Khi Nghị định 60/2015 có hiệu lực, thông qua cơ chế nới room, tôi hy vọng thời gian tới nhà ĐTNN sẽ tăng cường các hoạt động đầu tư vào TTCK VN.
Nói như ông, việc hút vốn của nhà đầu tư sẽ tác động trực tiếp lên tiến trình cổ phần hóa?
Đúng vậy, nới room là câu chuyện được thị trường, giới đầu tư trong và ngoài nước chờ đợi từ nhiều năm nay. Việc Chính phủ vừa cho phép nới room sẽ có tác động tích cực đến TTCK cả về trước mắt và dài hạn. Đồng thời việc nới room cũng nhắm tới mục tiêu đây sẽ là thị trường vốn hỗ trợ mạnh cho chương trình CPH khu vực DNNN.
Một nội dung quan trọng được nhiều nhà đầu tư quan tâm là tỷ lệ nới room (tỷ lệ sở hữu) cho nhà ĐTNN tham gia thị trường chứng khoán Việt Nam đối với hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực đều không giới hạn và có thể lên tới 100.
Thưa ông, giới đầu tư đang quan tâm là tỷ lệ nới room đối với từng ngành, lĩnh vực cụ thể ra sao bởi có nhiều ý kiến cho rằng cổ phiếu tốt hiện nay đã kín room?
Tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của các nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán hiện nay
Với những lĩnh vực mà pháp luật chuyên ngành có quy định về tỷ lệ sở hữu tối đa áp dụng đối với nhà ĐTNN, thì áp dụng theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Những ngành, lĩnh vực mà Việt Nam cam kết mở cửa khi gia WTO, tỷ lệ sở hữu áp dụng đối với nhà ĐTNN tuân thủ theo nội dung cam kết.
Với những ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, thì việc nới room phải thỏa mãn các điều kiện đặt ra. Còn lại những ngành nghề, lĩnh vực mà không có quy định khống chế về tỷ lệ sở hữu đối với nhà ĐTNN, thì mở room tối đa; trong đó, tỷ lệ room áp dụng đối với nhà ĐTNN sẽ do các DN tự quyết định.
Hiện nay, trong số hơn 600 DN đang niêm yết trên hai sở GDCK hiện tại, số lượng cổ phiếu tốt, chất lượng cao không nhiều và đã kín room với nhà đầu tư ngoại, nên phần nào cản trở dòng vốn đầu tư nước ngoài tham gia TTCK Việt Nam. Do đó, khi quyết định nới room có hiệu lực, sẽ có nhiều món ngon hơn để các nhà ĐTNN lựa chọn.
Liệu sự phân hóa của các nhóm ngành sẽ ra sao, thưa ông?
Với các DN cổ phần hình thành từ CPH, nếu cổ đông Nhà nước tiếp tục nắm giữ cổ phần, mà không sớm thoái bớt, trong khi nếu đây là những cổ phiếu nhà ĐTNN có nhu cầu tăng tỷ lệ sở hữu, thì hiệu ứng tác động của nới room sẽ hạn chế.
Tương tự, với những công ty, hoặc nhóm công ty mang tính chất gia đình, nếu họ tiếp tục muốn tăng tỷ lệ sở hữu, chứ không phải bán bớt cổ phiếu, thì cơ hội tăng tỷ lệ sở hữu với NĐT ngoại cũng gặp khó khăn.
Với các DN cổ phần tư nhân hoạt động trong những lĩnh vực tiềm năng mà NĐT nước ngoài quan tâm, nếu chủ DN sẵn sàng mở cửa để đón nhận nhân tố nước ngoài xuất hiện nhằm nâng cao chất lượng quản trị, cải thiện năng lực về vốn, công nghệ…, thì nhóm DN này có thể tạo hiệu ứng rất tích cực từ động thái nới room.
Việc nới room sẽ tác động hai chiều các DN, trong đó có nhóm ngành dịch vụ chứng khoán, đặc biệt là dịch vụ tư vấn mua bán, sáp nhập. Còn nhiều vấn đề phải được giải quyết để nhà ĐTNN có thể sở hữu đến 100% các Cty niêm yết, trong đó có hoàn thiện hành lang pháp lý về sở hữu tài sản là bất động sản…
Nhà ĐTNN cũng được đầu tư không hạn chế vào chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán, cổ phiếu của cty đầu tư chứng khoán, cổ phiếu không có quyền biểu quyết của công ty đại chúng, chứng khoán phái sinh, chứng chỉ lưu ký, trừ trường hợp điều lệ của tổ chức phát hành có quy định khác. Ngoại trừ quỹ mở, quỹ đầu tư chứng khoán có tỷ lệ sở hữu nước ngoài đạt từ 51% trở lên, thực hiện điều kiện và thủ tục đầu tư theo quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài khi góp vốn, mua chứng khoán, phần vốn góp của tổ chức kinh tế.
Việc nới room cũng sẽ mở rộng đối tượng đầu tư và mang lại thêm cho chính các DN nhiều cơ hội hợp tác với nhiều nhà đầu tư tiềm năng khác.
Tương tự như các nhóm ngành, lĩnh vực khác, việc nới room sẽ đặt nhóm ngành dịch vụ chứng khoán đối mặt với nhiều áp lực cạnh tranh hơn, nhưng yếu tố tích cực là thị trường và nhà đầu tư sẽ có cơ hội sử dụng các dịch vụ đa dạng, có chất lượng tốt hơn.
Xin cảm ơn ông!
Từ ngày 1/9/2015, Nghị định 60/2015/NĐ-CP có hiệu lực cũng mở lối cho nhà đầu tư ngoại đầu tư không giới hạn vào trái phiếu Chính phủ. Về việc đầu tư vào trái phiếu của nhà ĐTNN, nghị định quy định, nhà ĐTNN được đầu tư không hạn chế vào trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu DN, trừ trường hợp pháp luật có liên quan hoặc tổ chức phát hành có quy định khác. Trường hợp phát hành trái phiếu chuyển đổi, tổ chức phát hành phải đảm bảo tỷ lệ sở hữu nước ngoài khi đến hạn chuyển đổi thành cổ phiếu hoặc đến thời hạn mua cổ phiếu tuân thủ quy định về tỷ lệ sở hữu nước ngoài.

Thứ Hai, 29 tháng 6, 2015


Khái niệm đầu tư nước ngoài
Cho đến nay, đầu tư không phải là một khái niệm mới đối với nhiều người, nhất là đối với những người hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, thuật ngữ này lại được hiểu rẩt khác nhau. Có người cho rằng đầu tư là phải bỏ một cái gì đó vào một việc nhất định để thu lại một lợi ích trong tương lai. Nhưng cũng có người lại quan niệm đầu tư là các hoạt động sản xuất kinh doanh để thu lợi nhuận. Thậm chí thuật ngữ này thường được sử dụng rộng rãi, như câu cửa miệng để nói lên chi phí về thời gian, sức lực và tiền bạc vào mọi hoạt động của con người trong cuộc sống.

Vậy đầu tư theo đúng nghĩa của nó là gì? Những đặc trưng nào quyết định một hoạt động được gọi là đầu tư? Mặc dù vẫn còn có khá nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này, nhưng có thể đưa ra một khái niệm cơ bản về đầu tư được nhiều người thừa nhận, đó là “đầu tư là việc sử dụng một lượng tài sản nhất định như vốn, công nghệ, đất đai, … vào một hoạt động kinh tế cụ thể nhằm tạo ra một hoặc nhiều sản phẩm cho xã hội để thu lợi nhuận”. Người bỏ ra một số lượng tài sản được gọi là nhà đầu tư hay chủ đầu tư. Chủ đầu tư có thể là các tổ chức, cá nhân và cũng có thể là nhà nước.

Có hai đặc trưng quan trọng để phân biệt một hoạt động được gọi là đầu tư hay không, đó là: tính sinh lãi và độ rủi ro của công cuộc đầu tư. Thực vậy, người ta không thể bỏ ra một lượng tài sản mà lại không dự tính thu được giá trị cao hơn giá trị ban đầu. Tuy nhiên, nếu mọi hoạt động đầu tư nào cũng sinh lãi thì trong xã hội thì ai cũng muốn trở thành nhà đầu tư. Chính hai thuộc tính này đã sàng lọc các nhà đầu tư và thúc đẩy sản xuất – xã hội phát triển.

Qua hai đặc trưng trên cho thấy, rõ ràng mục đích của hoạt động đầu tư là lợi nhuận. Vì thế, cần hiểu rằng bất kỳ sự chi phí nào về thời gian, sức lực và tiền bạc vào một hoạt động nào đó mà không có mục đích thu lợi nhuận thì không thuộc về khái niệm về đầu tư.

Đầu tư nước ngoài

Khái niệm:

Đầu tư nước ngoài là sự dịch chuyển tài sản như vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý từ nước này sang nước khác để kinh doanh nhằm thu lợi nhuận cao trên phạm vi toàn cầu.

Các hình thức đầu tư nước ngoài.

Theo tính chất quản lý:

Đầu tư trực tiếp (FDI-Foreign Direct Investment) và đầu tư gián tiếp (PFI-Portfolio Foreign Investment).

Đầu tư gián tiếp thường do Chính phủ các nước, tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ của một nước cho một nước khác (thường là nước đang phát triển) vay vốn dưới nhiều hình thức viện trợ hoàn lại và không hoàn lại. Theo loại hình này bên nhận vốn có toàn quyền quyết định việc sử dụng vốn như thế nào để đạt được kết quả cao nhất, còn bên cho vay hoặc viện trợ không chịu rủi ro và hiệu quả vốn vay. Loại hình đầu tư này thường kèm theo điều kiện ràng buộc về kinh tế hay chính trị cho nước nhận vốn. Do vậy hình thức đầu tư này không chiếm tỷ trọng lớn trong vốn đầu tư quốc tế, nó thường chỉ dùng cho các nước đang phát triển có nhu cầu cấp thiết về vốn.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức mà trong đó các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư sang nước khác và trực tiếp quản lý hoặc tham gia quá trình sử dụng và thu hồi số vốn đầu tư bỏ ra.

FDI được thực hiện theo hai kênh chủ yếu: đầu tư mới (greenfield investment-GI) và mua lại&sát nhập (Mergers and Acquisitions-M&A). Đầu tư mới là các chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở nước ngoài thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới. Đây là kênh đầu tư truyền thống của FDI và cũng là kênh đầu tư chủ yếu để các nhà đầu tư ở các nước phát triển đầu tư vào các nước đang phát triển. Ngược lại, không giống như GI, M&A là các chủ đầu tư tiến hành đầu tư thông qua việc mua lại và sát nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài. Kênh đầu tư này được thực hiện ở các nước phát triển, các nước mới công nghiệp hóa và rất phổ biến trong những năm gần đây. Ở Việt Nam, FDI được chủ yếu thực hiện theo kênh GI.

FDI nói chung là việc các thương gia đưa vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý ra nước ngoài và khống chế nguồn vốn đầu tư trong quá trình phát triển sản xuất kinh doanh theo lĩnh vực đầu tư đó. Xuất phát từ nhu cầu truy tìm lợi nhuận cao và giành được tiếng nói hiệu quả trong sản xuất kinh doanh, các nhà đầu tư tiến hành đầu tư sang nước khác mà ở đó tập trung nhiều điều kiện thuận lợi hơn so với việc đầu tư trong nước như tranh đoạt thị trường ở nước sở tại, tranh thủ các ưu đãi về đầu tư, tận dụng nguồn nhân công rẻ, khai thác tài nguyên thiên nhiên… từ đó tối đa hóa lợi nhuận trên cùng một đồng vốn bỏ ra. Đối với các nước đang phát triển thì vấn đề vốn là hết sức cần thiết cho sự phát triển kinh tế - xã hội, trong khi đó việc huy động nguồn vốn trong nước không phải là dễ dàng, lại càng không thể chỉ dựa vào sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên để tiến hành tích lũy tư bản, do đó vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói chỉ được phá vỡ khi các nước này mở của để thu hút đầu tư nước ngoài.

FDI được xem là chất xúc tác không thể thiếu nhằm làm cho nền kinh tế có được sự tăng trưởng cao. Tuy nhiên, việc thu hút FDI sẽ gặp không ít khó khăn khi các nước đang phát triển có cơ sở hạ tầng còn yếu kém, luật pháp còn nhiều cản trở … Do đó các quốc gia sẽ phải cải thiện môi trường đầu tư thông thoáng hơn nữa tạo sự hấp dẫn hơn nữa để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.

Theo chiến lược đầu tư: Đầu tư mới và Mua lại & Sát nhập

- Đầu tư mới (Greenfield Investment): Là việc các chủ đầu tư thực hiện đầu tư mới ở nước ngoài thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới. Đây là kênh đầu tư truyền thống của FDI và cũng là kênh chủ yếu để các nhà đầu tư các nước phát triển đầu tư vào nước đang phát triển.

- Mua lại và sát nhập (Mergers and Accquistions): Là hình thức khi các chủ đầu tư thông qua việc mua lại và sát nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài. Kênh này chủ yếu ở các nước phát triển NICs (Các nước công nghiệp mới).

Đầu tư theo chiều dọc và đầu tư theo chiều ngang.

- Đầu tư theo chiều dọc (Vertical Intergration – Tích hợp dọc): Các nhà đầu tư đi chuyên sâu vào một hoặc một vài mặt hàng. Ở các loại mặt hàng này các nhà đầu tư sản xuất từ A đến Z. Đây là hình thức khi nhà đầu tư thực hiện đầu tư ra nước ngoài với mục đích khai thác nguồn nhiên liệu tự nhiên và các yếu tố đầu vào rẻ (lao động, đất đai,…). Ưu điểm: Lợi nhuận cao vì lấy được ở tất cả các khâu nhưng rủi ro cao, thị trường không rộng.

- Đầu tư theo chiều ngang (Horizontal Intergration – Tích hợp ngang): Nhà đầu tư mở rộng và thôn tính thị trường nước ngoài cùng một loại sản phẩm có lợi thế cạnh tranh ở nước ngoài, hình thức này thường dẫn đến độc quyền. Theo hình thức này, nhà đầu tư tổ chức kinh doanh nhiều nhóm sản phẩm và hàng hóa trên phạm vi rộng. Hình thức này có ưu điểm rủi ro thấp nhưng lợi nhuận không cao.

Các hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc Hội thông qua ngày 29/12/1987 và nhiều lần sửa đổi bổ sung cùng với một số lớn các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định: Các tổ chức, cá nhân nước ngoài được đầu tư vào Việt Nam dưới các hình thức:

* Hợp đồng hợp tác kinh doanh

* Doanh nghiệp liên doanh

* Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

Hợp đồng hợp tác kinh doanh.

Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai hay nhiều bên (gọi là các bên hợp doanh) quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh tại Việt Nam mà không thành lập pháp nhân mới.

Hợp đồng hợp tác kinh doanh phải có sự tham gia hay bên hợp doanh là nước ngoài, hợp đồng này khác với các loại hợp đồng khác đó là nó phân chia kết quả kinh doanh và trách nhiệm cho các bên cụ thể được ghi trong hợp đồng, không áp dụng đối với hợp đồng thương mại, hợp đồng giao nhận sản phẩm, mua thiết bị trả chậm và các hợp đồng khác không phân chia lợi nhuận. Nội dung chính của hợp đồng này bao gồm:

- Quốc tịch, địa chỉ, đại diện có thẩm quyền của các bên hợp doanh

- Mục tiêu và phạm vi kinh doanh

- Sản phẩm chủ yếu, tỷ lệ xuất khẩu và tiêu thụ sản phẩm trong nước

- Quyền và nghĩa vụ của các bên hợp doanh

- Đóng góp của các bên hợp doanh, phân chia kết quả kinh doanh, tiến độ thực hiện hợp đồng

Trong quá trình kinh doanh các bên hợp doanh các bên hợp doanh được phép thỏa thuận thành lập ban điều phối để theo dõi giám sát công việc thực hiện hợp đồng, nhưng ban điều phối không phải là đại diện pháp lý cho các bên hợp doanh. Mỗi bên hợp doanh phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình trước pháp luật và có các nghiã vụ tài chính không giống nhau. Bên Việt Nam chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam theo luật doanh nghiệp mới ban hành. Bên nước ngoài chịu sự điều chỉnh của luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Trong quá trình hoạt động các bên hợp doanh được quyền chuyển nhượng vốn cho các đối tượng khác những cũng phải ưu tiên cho các đối tượng đang hợp tác.

Ưu điểm:

- Phát huy được năng lực sản xuất, người lao động có thêm việc làm, có thêm sản phẩm và thu nhập, công nhân và kỹ sư có có hội làm quen và học tập kinh nghiệm của họ.

- Là hình thức sản xuất theo hợp đồng phân chia sản phẩm, phía Việt Nam không chịu rủi ro.

Nhược điểm:

Hình thức này chỉ nhận được kỹ thuật trung bình, ở trình độ thấp so với nước ngoài, đòi hỏi hàm lượng lao động sống cao, chủ yếu nhà đầu tư khai thác lao động trẻ.

Doanh nghiệp liên doanh.

Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai hay nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc Hiệp định ký giữa Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài hoặc là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng kinh doanh.

Hợp đồng liên doanh là văn bản ký kết giữa các bên Việt Nam với các bên nước ngoài để thành lập doanh nghiệp liên doanh tại Việt Nam. Doanh nghiệp liên doanh có sự sở hữu hỗn hợp giữa bên Việt Nam và bên nước ngoài, được thành lập theo hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân mang quốc tịch Việt Nam, do đó phải tuân theo các quy định của pháp luật Việt Nam, chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn đóng góp đối với các khoản nợ và các nghĩa vụ tài chính khác.

Vốn góp của bên nước ngoài và bên Việt Nam được gọi là vốn pháp định, theo quy định của Việt Nam thì tổng vốn pháp định phải lớn hơn hoặc bằng 30% tổng vốn đầu tư. Vốn góp của nước ngoài do các bên tự thỏa thuận nhưng không được thấp hơn 30% vốn pháp định, tất cả quy định này được ghi cụ thể trong điều lệ của công ty.

Ưu điểm:

- Nhập được kỹ thuật công nghệ tiên tiến của nước ngoài để nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới thế hệ sản phẩm, tăng thêm năng lực sản xuất trong nước.

- áp dụng được kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài, nâng cao trình độ quản lý của nước chủ nhà, đào tạo bồi dưỡng nhân tài.

- Nhà đầu tư nước ngoài quan tâm hơn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, tạo điều kiện tốt để bảo vệ vốn đầu tư, tăng cường kiểm soát chất lượng sản phẩm, đưa sản phẩm ra thị trường thế giới trong thời gian liên doanh và sau liên doanh, tiết kiệm vốn đầu tư.

- Xí nghiệp liên doanh góp vốn chịu sự quản lý, kiểm tra của các cơ quan cấp trên tất cả các mặt hoạt động sản xuất, lưu thông, tài chính, kế hoạch.

- Nước chủ nhà vừa tận dụng được các khoản đầu tư, vừa khai thác được lợi thế trong nước (nguồn tài nguyên, lao động). Hình thức liên doanh đem lại cho nước chủ nhà không chỉ ở sự giàu có về tư liệu sản xuất mà còn ở sự lớn khôn nhanh chóng của người lao động. Nhờ sức mạnh liên doanh quốc tế đã nhanh chóng gắn nền kinh tế trong nước lại với thị trường thế giới. Kết quả là nền kinh tế không bị khép kín trong phạm vi quốcd gia, sự liên doanh hợp tác quốc tế ngày càng phát triển càng trở thành động lực cho nền kinh tế trong nước.

Nhược điểm:

Doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài là một hình thức kinh tế hỗn hợp giữa các bên có chế độ chính trị khác nhau nên dễ dẫn đến mâu thuẫn nội bộ tranh chấp quyền lợi. Phía trong nước mà năng lực yếu kém thì liên doanh không tồn tại lâu dài.

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

Đây là hình thức doanh nghiệp được thành lập tại nước sở tại, có tư cách pháp nhân riêng theo luật của nước sở tại với 100% vốn của đối tác nước ngoài. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài do phía nước ngoài toàn quyền quản lý, điều hành doanh nghiệp, tự do tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh trong phạm vi pháp luật nước chủ nhà quy định.

Ưu điểm:

- Dùng hình thức này sẽ không nguy hiểm và không chịu rủi ro, nó làm tăng thêm một số sản phẩm và lợi nhuận mà nhà nước không phải bỏ vốn và điều hành doanh nghiệp. Nó chỉ là hợp đồng cho thuê, nhà đầu tư đi thuê không thể trở thành sở hữu tài sản. Quyền sở hữu vẫn là của nước sở tại.

- Vì không phải chia sẻ quyền sở hữu và lợi nhuận nên hình thức này có ưu điểm là nhà đầu tư nước ngoài rất tích cực đầu tư, thiết bị, công nghệ mới, tích cực đào tạo nâng cao tay nghề cho người lao động, cán bộ quản lý xí nghiệp.

Nhược điểm:

Sự kiểm tra, kiểm soát đối với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài bị hạn chế. Nguồn nguyên liệu, vật liệu của doanh nghiệp nằm ngoài hệ thống cân đối quốc gia.

Hình thức hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao.

* Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT): là văn bản ký kết giữa Cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật (như cầu đường, sân bay, bến cảng, …tại Việt Nam) trong một khoảng thời gian nhất định. Với hình thức này, các chủ đầu tư chịu trách nhiệm tiến hành xây dựng và kinh doanh công trình trong một thời gian để thu hồi đủ vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý. Sau khi dự án kết thúc, toàn bộ công trình sẽ được chuyển giao cho nước chủ nhà mà không thu bất cứ khoản tiền nào.

* Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO): với hình thức này, sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình cho nước chủ nhà. Chính phủ nước chủ nhà giành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong thời gian nhất định để thu hồi đủ vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý.

* Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT): với hình thức này, sau khi xây dựng xong, chủ đầu tư chuyển giao công trình cho nước chủ nhà. Nước chủ nhà sẽ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi đủ vốn đầu tư.

Ưu điểm:

Các nhà đầu tư phải chịu trách nhiệm về giá trị sử dụng và độ an toàn đối với công trình của mình trong một khoảng thời gian do hợp đồng quy định sau khi chuyển giao. Ưu điểm cơ bản của hợp đồng này là nhà đầu tư sẽ tiêu thụ một khối lượng lớn thiết bị tại nước ngoài theo các ưu đãi, còn bên nước sở tại thì sẽ được cả công trình hoàn chỉnh mà không cần phải bỏ vốn ra quá lớn ban đầu. Do không phải bỏ vốn đầu tư ban đầu nên việc xây dựng các công trình này sẽ không gây hậu quả cho nền tài chính quốc gia. Bù lại, nhà đầu tư nước ngoài được hưởng nhiều ưu đãi về thuế, tạo thuận lợi về thủ tục được chính phủ bảo hộ vốn đầu tư và các quyền lợi hợp pháp khác.

Nhược điểm:

Dự án BOT, BTO, BT có mức độ rủi ro khá cao đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống pháp lý hoàn thiện và hợp lý để áp dụng cụ thể hình thức này.

Hình thức khu chế xuất, khu công nghiệp và khu công nghệ cao.

Khu chế xuất, khu công nghiệp và khu công nghệ cao là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất sản phẩm công nghiệp, sản phẩm dùng để xuất khẩu, sản phẩm công nghệ cao và các hoạt động dịch vụ phục vụ cho hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp này, có ranh giới địa lý xác định và không có dân cư sinh sống.

Thông thường các nước đang phát triển muốn thu hút được FDI thì phải đảm bảo các yếu tố cần thiết cho môi trường đầu tư như môi trường pháp lý, cơ sở hạ tầng … Ưu điểm của hình thức này: Thuận lợi về vị trí giao thông vận tải, thông tin liên lạc, tiếp cận thị trường. Nơi đây có cơ sở hạ tầng tốt, lao động dồi dào, thời gian thuê hợp lý và môi trường pháp lý thuận lợi, nhất quán.
Được sự hỗ trợ của Chương trình Xúc tiến Thương mại trọng điểm Quốc gia năm 2015 thông qua Cục Xúc Tiến Thương mại (Bộ Công Thương), Hiệp Hội Da giầy-Túi xách Việt nam (Lefaso) sẽ tổ chức Hội nghị Xúc tiến Xuất khẩu Da giày với chủ đề nâng cao năng lực kinh doanh, xuất khẩu cho các DN da giày Việt Nam vào ngày 15/07/2015 tại TP. Hồ Chí Minh.
Bà Phan Thị Thanh Xuân, Tổng thư ký Lefaso
Phóng viên đã có cuộc phỏng vấn với bà Phan Thị Thanh Xuân, Tổng thư ký Hiệp hội Da-Giày-Túi xách Việt Nam (Lefaso) trước thềm hội nghị về những cơ hội hợp tác xuất khẩu với các đối tác nước ngoài. 

Bà đánh giá như thế nào về sự phát triển của ngành da giày Việt Nam hiện nay? 

Ngành Da Giầy Việt Nam là một trong những ngành kinh tế xuất khẩu mũi nhọn, góp phần tăng trưởng GDP của quốc gia. Mặc dù giá trị gia tăng của ngành da giầy không lớn nhưng với trên 800 DN, 1 triệu lao động, ngành da giầy đã mang lại công việc cho một số lượng lớn lao động phổ thông, trong đó số lao động nữ chiếm tới 85%. 

Theo số liệu thống kê, Việt Nam nằm trong top 4 nước sản xuất giầy dép lớn nhất thế giới về số lượng sau Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil, nhưng là nước xuất khẩu lớn thứ 3 trên thế giới về trị giá, sau Trung Quốc và Italia. Sản phẩm giầy dép của Việt Nam đã xuất khẩu tới trên 50 nước, tại Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản, giầy dép Việt Nam tiếp tục tăng thị phần và đứng vị trí thứ hai sau Trung Quốc. Sản phẩm túi xách có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nhanh, hiện đã có mặt tại trên 40 nước.

Không chỉ có tiềm lực, ngành cũng sẽ nhiều cơ hội hợp tác, tăng cường xuất khẩu khi các hiệp định thương mại tự do có hiệu lực trong vòng 1-2 năm tới, thưa bà? 

Nhiều Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã và đang được Chính phủ tích cực đàm phán với các nước sẽ có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của ngành. Trong đó, nổi bật vẫn là Hiệp định với Khối 12 nước Châu Á Thái bình dương (gọi tắt là TPP), với Liên Minh Châu Âu (gọi tắt là FTAEV), với Liên Minh Hải Quan Nga-Belarus-Kazakhstan, với các Hiệp định của Khối ASEAN sẽ có hiệu lực trong 2015… 

Khi Việt Nam tham gia vào Hiệp định TPP thì lợi thế trước tiên là xóa bỏ mức thuế hiện tại từ 3,5 - 57.4% để hưởng ưu đãi các dòng sản phẩm da giày về mức 0%, từ đó giúp DN ngành da giày tăng trưởng xuất khẩu. Đây không chỉ được coi là cú huých mà còn là cơ hội vàng cho ngành da giày phát triển cả về số lượng và chất lượng.

Hiện khối ASEAN đã có Hiệp định FTA riêng với từng nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Úc và New Zealand. ASEAN cũng đang đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) chung giữa ASEAN với cả 6 nước nói trên (ASEAN+6), hình thành một khu vực FTA lớn gồm 16 nước với dân số hơn 3 tỷ người. Việt Nam có cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu sang các nước Đông Á, Ấn Độ và Australia. 

Đặc biệt, ngày 5/5/2015 vừa qua, Việt Nam đã ký Hiệp định FTA với Hàn Quốc và ngày 29/5/2015 đã ký Hiệp định FTA với Khu vực kinh tế Á- Âu (Liên minh Hải quan), hiện Chính phủ các nước đang thực hiện thủ tục phê chuẩn để các hiệp định này sớm có hiệu lực.
Trong 6 tháng đầu năm 2015, Việt Nam cũng đã có các cuộc đàm phán để hoàn tất FTA Việt Nam – EU và Hiệp định TPP, dự kiến ký kết trong năm 2015. 

Các FTA sẽ có hiệu lực trong 1-2 năm tới, nên năm 2015 chưa có tác động trực tiếp tăng kim ngạch xuất khẩu, nhưng đã tạo môi trường thuận lợi thu hút đầu tư nước ngoài để sản xuất nguyên phụ liệu và sản phẩm xuất khẩu tại Việt Nam.

Có nhiều lợi thế xuất khẩu nhưng tại sao ngành da giày Việt Nam vẫn đang khá lận đận trong việc tìm hướng xuất khẩu, thưa bà? 

Có nhiều nguyên nhân khiến cho ngành da giầy Việt Nam vẫn còn lận đận trong việc tìm hướng xuất khẩu, chủ yếu là gia công xuất khẩu, nguồn cung ứng nguyên phụ liệu (NPL) do nước ngoài chỉ định, năng lực thiết kế mẫu mã còn yếu, thiếu đồng bộ trong phát triển sản xuất và cung ứng nguyên phụ liệu. 

Một số loại nguyên phụ liệu chưa có hoặc có rất ít cơ sở sản xuất: giả da, vải không dệt, vải kỹ thuật, cactoong (texon làm đế trong), vật liệu làm pho, phụ liệu, phụ kiện (bằng kim loại, chất dẻo), keo dán và hóa chất. Các loại này hiện nay cung cấp dưới 20%.

Bên cạnh đó, chất lượng sản phẩm (nguyên phụ liệu) của một số doanh nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu xuất khẩu (các chỉ tiêu cơ lý, thẩm mỹ như độ đều màu, bền màu ..., các yêu cầu về an toàn sinh thái). Các doanh nghiệp sản xuất có sản phẩm đáp ứng yêu cầu xuất khẩu nhưng chưa đáp ứng được tiến độ giao hàng (do sự thay đổi mẫu mã nhanh chóng và thời gian cung cấp ngắn).

Ngoài ra, trình độ công nghệ, nhân lực cho ngành da giầy ở Việt Nam còn nhiều hạn chế nên sản xuất nguyên phụ liệu sẽ gặp khó khăn, đặc biệt hiện nay công nghệ sản xuất nguyên phụ liệu đã ở mức rất cao. Đặc biệt, Việt Nam chưa có quy hoạch vùng nguyên liệu cho sản xuất nguyên vật liệu ngành da giầy: da nguyên liệu, xơ bông, xơ nhân tạo, hóa chất ... 
Hội nghị xúc tiến xuất khẩu ngành da giày lần thứ 3 sẽ tạo cơ hội và giải pháp tháo gỡ khó khăn nội tại, tìm hướng đi cho xuất khẩu da giày Việt Nam như thế nào, thưa bà? 

Hội nghị là cơ hội để Hiệp hội và Ngành Da - Giầy - Túi xách Việt Nam quảng bá hình ảnh, sự lớn mạnh của Ngành trong những năm qua, sẽ nâng cao uy tín, vị thế và ảnh hưởng của Ngành và Hiệp hội trong Khu vực Châu Á và trên thế giới, đồng thời là cơ hội thuận lợi để các doanh nghiệp Việt Nam gặp gỡ, giao lưu, tiếp thu sự chia sẻ kinh nghiệm giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước… nhằm  thúc đẩy quan hệ hợp tác xuất khẩu, giới thiệu năng lực và khả năng của doanh nghiệp. 

Tại hội nghị, hơn 200 doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu giày, nguyên phụ liệu tại Việt Nam và nước ngoài sẽ cùng nhau thảo luận một số nội dung hội thảo như: Tiềm năng xuất khẩu của ngành Da - Giầy - Túi xách Việt Nam, đánh giá nhu cầu thị trường, những thuận lợi khó khăn, cơ hội thách thức trong xuất khẩu ; Các rào cản trong thương mại quốc tế liên quan tới sản phẩm xuất khẩu của toàn ngành… ; Nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm xuất khẩu của ngành Da - Giầy - Túi xách Việt Nam trong giai đoạn tới (Đến năm 2020).

Chúng tôi kỳ vọng, Hội nghị sẽ mang lại hiệu quả thiết thực cho các DN trong toàn ngành nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác và hiểu biết lẫn nhau, thu hút đầu tư mở rộng sản xuất, tăng đơn hàng và phát triển xuất khẩu. 

Không chỉ vậy, Lefaso cũng mong muốn thông qua Hội nghị quảng bá hình ảnh ngành công nghiệp, giới thiệu tới các đại biểu từ các nước thành viên trong khu vực và trên thế giới tham dự Hội nghị và diễn đàn về tiềm năng xuất khẩu, uy tín của các doanh nghiệp, chất lượng các sản phẩm được sản xuất tại Việt Nam và khả năng đáp ứng những yêu cầu đa dạng phức tạp của các bạn hàng, các nhà nhập khẩu. 

Lefaso đặt ra kỳ vọng là các DN của ngành sẽ hiểu rõ hơn những cơ hội thách thức cũng như thảo luận, đề ra được các giải pháp hiệu quả cho ngành và doanh nghiệp. Cũng qua Hội nghị này, Lefaso mong muốn có sự góp phần tích cực từ các nhà điều hành vĩ mô nhằm tạo điều kiện nhiều hơn nữa thúc đẩy sự phát triển bền vững cho ngành Da giày Việt Nam trong thời kỳ mới.   

Theo Tienphong.vn

Thứ Ba, 23 tháng 6, 2015

Cầu vượt vành đai 3 đoạn Bắc Linh Đàm đến Mai Dịch (Hà Nội) là tuyến đường cao tốc trên cao hiện đại nhất Việt Nam, được xây dựng bằng nguồn vốn ODA. Ảnh: TRẦN HẢI
   Vốn nhà nước dành cho đầu tư chiếm tỷ trọng rất lớn trong GDP, là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế của đất nước. Tuy nguồn vốn dành cho đầu tư thường ít hơn nhiều so với nhu cầu nhưng tình trạng đáng báo động là nợ đọng xây dựng cơ bản (XDCB) từ vốn ngân sách nhà nước (NSNN) hiện nay đã trở nên phổ biến, giống như một căn bệnh khó chữa. Nợ XDCB khiến các nhà thầu không có vốn để thực hiện tái sản xuất, dẫn đến tình trạng nhà thầu chiếm dụng vốn của doanh nghiệp (DN) cung cấp vật tư, chiếm dụng tiền lương của người lao động..., còn chiếm dụng vốn của các tổ chức tín dụng sẽ dẫn tới mất an toàn tài chính.

Giải ngân thấp

   Ước tính đến hết tháng 6-2015, kết quả thanh toán vốn đầu tư XDCB từ nguồn nhà nước đạt thấp hơn cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Vốn XDCB tập trung đã thanh toán đạt trên 81 nghìn tỷ đồng, đạt 45,9% kế hoạch đã giao (cùng kỳ năm 2014 đạt 49,6%); trong đó, nguồn vốn do các bộ, ngành T.Ư quản lý đạt gần 15 nghìn tỷ đồng, đạt 38,9% kế hoạch; nguồn vốn địa phương quản lý đạt gần 67 nghìn tỷ đồng, đạt 47% kế hoạch. Nguồn vốn trái phiếu Chính phủ (TPCP) đã thanh toán đạt gần 28 nghìn tỷ đồng, đạt 36% kế hoạch đã giao (cùng kỳ năm 2014 đạt 40,3%). Trong đó, nguồn vốn do các bộ, ngành T.Ư quản lý đạt gần 15 nghìn tỷ đồng, nguồn vốn địa phương quản lý đạt gần 13 nghìn tỷ đồng.

   Có thể thấy kết quả giải ngân sáu tháng đầu năm 2015 vẫn còn thấp, khi tổng số vốn đầu tư XDCB tập trung giải ngân qua Kho bạc Nhà nước (KBNN) thấp hơn 3,7% so với cùng kỳ; nguồn vốn TPCP thấp hơn tới 4,3% so cùng kỳ. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng giải ngân thấp, trong đó có nguyên nhân cơ chế chính sách liên quan đến lĩnh vực quản lý đầu tư và xây dựng thời gian qua có nhiều thay đổi và có hiệu lực thi hành từ năm 2014, 2015. Có thể kể tới Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu; các Nghị định của Chính phủ, và điều này dẫn đến những dự án, công trình triển khai trong năm 2015 đã phần nào bị ảnh hưởng đến việc triển khai thực hiện, giải ngân, do phải thực hiện điều chỉnh kế hoạch đấu thầu, điều chỉnh hợp đồng...

   Riêng đối với các dự án ODA thì việc giải ngân nguồn vốn này phải trên cơ sở kế hoạch vốn năm được giao, nhưng nhiều dự án ODA được bố trí kế hoạch vốn năm 2015 thấp hơn so với tiến độ thực hiện dự án, thậm chí có một số dự án không được giao kế hoạch vốn ODA năm 2015 nên cũng đã phần nào ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân của các dự án ODA. Không những thế, việc triển khai thực hiện của các chủ đầu tư cũng còn một số vấn đề bất cập, như: công tác hoàn thiện thủ tục đầu tư của các dự án còn chậm so với quy định; công tác đấu thầu, thi công công trình, nghiệm thu khối lượng thanh toán chưa thực hiện ngay từ đầu năm nên việc giải ngân cho dự án còn chậm; chưa giải quyết dứt điểm vướng mắc trong công tác đền bù giải phóng mặt bằng nhằm bàn giao mặt bằng cho dự án triển khai đúng tiến độ.

Cần nhiều giải pháp đồng bộ

   Để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư XDCB trong những tháng còn lại của năm 2015, mặt khác để thực hiện chính sách tài khóa theo chỉ đạo của Chính phủ, thực hiện các biện pháp thiết thực, hiệu quả nhằm tập trung tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh gắn với hỗ trợ phát triển thị trường, Bộ Tài chính đã cam kết bảo đảm nguồn vốn kịp thời thanh toán cho các công trình khi có đủ điều kiện. Đồng thời, Bộ Tài chính kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng khẩn trương hoàn chỉnh các nghị định hướng dẫn Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng để trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành để các bộ, ngành và địa phương có căn cứ thực hiện các nhiệm vụ trong những tháng cuối năm 2015; chỉ đạo các bộ, UBND các tỉnh tích cực, quyết liệt và chủ động trong triển khai kế hoạch đầu tư năm 2015; phối hợp chặt chẽ với cơ quan tài chính, KBNN các cấp trong xử lý, điều hòa, điều chỉnh, thanh toán vốn cho các dự án cụ thể.
Đối với cơ quan tài chính, để các bộ, ngành và địa phương thực hiện kịp thời, đầy đủ các quy định mới về quản lý vốn đầu tư nguồn NSNN và vốn TPCP theo Luật Đầu tư công và các nghị định hướng dẫn kèm theo, Bộ Tài chính sẽ sớm ban hành các Thông tư sửa đổi hướng dẫn liên quan đến quản lý và thanh toán vốn NSNN và TPCP (sửa đổi Thông tư 86, Thông tư 05, Thông tư 19). Tiếp tục báo cáo Thủ tướng Chính phủ để xem xét, giải quyết kịp thời các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện quản lý vốn đầu tư XDCB trong những tháng cuối năm 2015. Đồng thời, Bộ Tài chính sẽ phối hợp chặt chẽ với cơ quan Kế hoạch và Đầu tư để xử lý các vướng mắc trong khâu phân bổ vốn, tạo điều kiện cho các dự án được triển khai sớm.

   Riêng đối với hệ thống KBNN, Bộ Tài chính chỉ đạo KBNN hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ đầu tư trong việc hoàn tất các hồ sơ, thủ tục thanh toán vốn; phối hợp chặt chẽ với chủ đầu tư để xử lý các vướng mắc phát sinh trong quá trình thanh toán, kịp thời báo cáo ngay những vấn đề vượt thẩm quyền để Bộ Tài chính xem xét, giải quyết; tiếp tục cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tránh gây phiền hà cho chủ đầu tư. KBNN tiếp tục thực hiện việc thu hồi tạm ứng đối với các dự án có số dư tạm ứng vốn đầu tư lớn, một số dự án tạm ứng kéo dài từ nhiều năm, đặc biệt số dư tạm ứng đền bù giải phóng mặt bằng, chưa có biện pháp đôn đốc thu hồi quyết liệt (theo thống kê tính đến tháng 5-2015, số dự tạm ứng toàn hệ thống KBNN là hơn 52.252 tỷ đồng).
Bên cạnh đó, KBNN thực hiện thông báo công khai số liệu giải ngân định kỳ đối với nguồn vốn đầu tư XDCB từ các nguồn trên để giúp các bộ, ngành, địa phương tăng cường chỉ đạo thực hiện kế hoạch và giải ngân vốn đầu tư XDCB năm 2015.

   Riêng việc tổ chức rà soát quy trình kiểm soát chi NSNN, đồng thời đề xuất phương án cải cách thủ tục hành chính cần được tiếp tục coi là một trong những biện pháp để hệ thống KBNN hoàn thiện quy trình luân chuyển chứng từ thanh toán vốn đầu tư XDCB, phấn đấu rút ngắn thời gian kiểm soát chi đầu tư trong nội bộ hệ thống KBNN trong thời gian tới. Đồng thời, KBNN cần triển khai thí điểm quy trình giao dịch điện tử thông qua dịch vụ công trên cổng thông tin KBNN.

   Đối với các bộ, ngành và địa phương, việc thực hiện kịp thời, đầy đủ các quy định về quản lý vốn đầu tư nguồn NSNN và TPCP là rất cần thiết. Cùng với đó, cần khẩn trương rà soát, xử lý dứt điểm các bất cập trong việc phân bổ kế hoạch vốn đầu tư năm 2015; sớm hoàn thành công tác phân bổ kế hoạch vốn đợt 3 được Thủ tướng Chính phủ giao, kịp thời báo cáo các vấn đề vượt thẩm quyền; phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính xử lý các vướng mắc trong phân bổ và thực hiện kế hoạch vốn đầu tư; phối hợp với hệ thống KBNN tháo gỡ vướng mắc trong công tác kiểm soát, thanh toán vốn đầu tư.

   Bên cạnh đó, cần rốt ráo chỉ đạo các chủ đầu tư phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương khẩn trương xử lý dứt điểm những dự án còn có vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng để sớm bàn giao mặt bằng cho nhà thầu thi công xây dựng; có biện pháp tháo gỡ khó khăn và chỉ đạo chủ đầu tư thúc đẩy nhà thầu đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án, nghiệm thu khối lượng, hoàn thiện hồ sơ thanh toán gửi KBNN làm cơ sở kiểm soát, thanh toán; phối hợp với KBNN địa phương để đối chiếu, rà soát các khoản dư tạm ứng vốn đầu tư còn tồn đọng, có biện pháp thanh toán để thu hồi số vốn đã tạm ứng. Định kỳ, tổ chức giao ban giữa các chủ đầu tư với các ban quản lý về tình hình thực hiện và giải ngân các dự án để thúc đẩy việc giải ngân vốn nhanh, hết kế hoạch được giao...

   Về công tác quyết toán, Bộ Tài chính đề nghị các bộ, ngành quan tâm chỉ đạo công tác quyết toán vốn đầu tư gồm quyết toán niên độ ngân sách hằng năm và quyết toán dự án hoàn thành.

   Đối với các chủ đầu tư, cần khẩn trương hoàn thiện thủ tục đầu tư, đẩy nhanh đấu thầu, thi công công trình, nghiệm thu khối lượng thanh toán nhằm thực hiện ngay việc giải ngân cho các dự án; tập trung chỉ đạo trong công tác đền bù giải phóng mặt bằng; kiểm tra, chấn chỉnh công tác tạm ứng theo hợp đồng, bảo đảm theo đúng quy định, tránh trường hợp tạm ứng sai mục đích, tạm ứng để chạy vốn, tăng cường công tác kiểm tra các khoản đã tạm ứng. Tích cực xử lý các vướng mắc phát sinh nhằm hoàn thành tốt kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản Nhà nước giao năm 2015. Đồng thời, cần rà soát, khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, thủ tục đầu tư của các dự án, các hợp đồng (đối với những dự án, hợp đồng cần phải điều chỉnh, bổ sung) theo quy định.

   Không những thế, các chủ đầu tư cần tập trung chỉ đạo công tác đền bù giải phóng mặt bằng; phối hợp và tăng cường kiểm tra các nhà thầu, các đơn vị thực hiện nhiệm vụ đền bù giải phóng mặt bằng đối với các khoản đã tạm ứng, bảo đảm vốn tạm ứng được sử dụng đúng đối tượng, đúng quy định; khẩn trương nghiệm thu, hoàn thiện hồ sơ và làm thủ tục thanh toán đối với khối lượng công việc đền bù giải phóng mặt bằng đã hoàn thành để hoàn ứng, giảm số dư tạm ứng vốn đầu tư tại cơ quan KBNN. Ngoài ra, cần phối hợp với nhà thầu khẩn trương nghiệm thu khối lượng ngay sau khi hoàn thành để thanh toán, bảo đảm chính xác, kịp thời tạo điều kiện cho các nhà thầu xây dựng, tránh dồn vào cuối năm.

TRỊNH NAM TUẤN
Quyền Vụ trưởng Đầu tư, Bộ Tài chính

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2015

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc là doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại.

Thành lập công ty Việt Nam có vốn nước ngoài

1 . Hồ sơ thành lập công ty có vốn đầu tư nước ngoài
Đối với nhà đầu tư là cá nhân:  
Bản sao có chứng thực chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu
Xác nhận số dư tài khoản của ngân hàng (chứng minh năng lực tài chính của nhà đầu tư)
Hợp đồng thuê trụ sở.
Đối với nhà đầu tư là tổ chức:
Bản sao giấy phép đăng ký kinh doanh (Có chứng thực đối với công ty trong nước và hợp pháp hóa lãnh sự đối với công ty nước ngoài)
Báo cáo tài chính có kiểm toán hoặc có xác nhận của cơ quan thuế  trong năm gần nhất(hợp pháp hóa lãnh sự đối với công ty nước ngoài)
Bản sao có chứng thực chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu của người đại diện
Điều lệ của công ty chủ quản (hợp pháp hóa lãnh sự đối với công ty nước ngoài)
Văn bản ủy quyền của công ty cho người đại diện (hợp pháp hóa lãnh sự đối với công ty nước ngoài)
Hồ sơ kinh nghiệm và năng lực của nhà đầu tư 
2. Thời gian thành lập công ty có vốn đầu tư nước ngoài
Thời gian : 30 – 45 ngày (Tùy từng trường hợp) 
3. Quy trình thành lập công ty có vốn đầu tư nước ngoài
Việt Luật sẽ tiến hành soạn hồ sơ đăng ký Thành lập công ty có vốn đầu tư nước ngoài cho khách hàng
Đại diện lên Sở kế hoạch và Đầu tư để nộp hồ sơ đăng ký Thành lập công ty có vốn đầu tư nước ngoài cho quý khách hàng
Đại diện nhận kết quả là giấy chứng nhận Đăng ký kinh doanh tại sở KH-ĐT cho khách hàng
Đại diện theo dõi hồ sơ và trả lời của Sở KH-ĐT, thông báo kết quả hồ sơ đã nộp cho khách hàng
Tiến hành thủ tục khắc con dấu cho Doanh nghiệp
Tiến hành thủ tục đăng ký Mã số Thuế và Mã số Hải quan cho Doanh nghiệp
4. Dịch vụ hẫu mãi ( miễn phí)
Soạn thảo nội quy, quy chế của công ty  
Tra cứu thương hiệu, logo  
Lập tờ khai thuế môn bài
Miễn phí kê khai thuế trong tháng đầu 
Tặng 01 dấu chức danh

Công ty Việt Luật cam kết giúp bạn hoàn tất các dịch vụ pháp lý một cách nhanh chóng và hiệu quả. Vui lòng liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn rõ nét !

Quý khách có nhu cầu thành lập công ty Việt Nam có vốn đầu tư nước ngoài vui lòng liên hệ:

CÔNG TY TƯ VẤN VIỆT LUẬT

Trụ sở: Số 126 phố Chùa Láng, Q.Đống Đa, Hà Nội
ĐT: 04.3997.42.88 / 0965.999.345
Email: congtyvietluathanoi@gmail.com
Website: http://thanhlapdoanhnghieptrongoi.com

Gallery

Most Commented

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

2014 © Planer - Responsive Blogger Magazine Theme - Published By Gooyaabi Templates
Planer theme by Way2themes