Thứ Năm, 23 tháng 7, 2015

Để phát triển ngành công nghiệp được đánh giá là non trẻ với Việt Nam, nền kinh tế đã và đang phải “trả giá” không ít.
Để phát triển ngành công nghiệp được đánh giá là non trẻ với Việt Nam, nền kinh tế đã và đang phải “trả giá” không ít.Với dự án đầu tiên, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất (Quảng Ngãi), đơn vị quản lý là Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Lọc hóa dầu Bình Sơn được hưởng cơ chế thu điều tiết. Cụ thể, so với các doanh nghiệp nhập khẩu xăng - dầu, khí hóa lỏng (LPG), Công ty Bình Sơn được giảm 7% thuế nhập khẩu đối với xăng - dầu, 5% với LPG, 3% với sản phẩm hóa dầu (xăng dầu do Dung Quốc sản xuất vẫn phải nộp thuế nhập khẩu).

Mức ưu đãi này được áp dụng từ năm 2009 và sẽ kéo dài đến năm 2018. Ngoài ra, Công ty Bình Sơn còn được hưởng ưu đãi thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 10% trong thời gian 30 năm (nhiều hơn 15 năm so với các doanh nghiệp khác trong khu kinh tế Dung Quất); được miễn thuế bốn năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong thời gian chín năm tiếp theo từ năm đầu tiên Công ty Bình Sơn có thu nhập chịu thuế từ dự án Nhà máy Lọc dầu Dung Quất.

Nhà máy đi vào hoạt động và đang đóng góp lớn cho ngân sách của tỉnh Quảng Ngãi. Điều này đã tạo ra một cuộc chạy đua giữa các địa phương nhằm thu hút đầu tư các dự án lọc, hóa dầu. Đến nay, cả nước đã có tám dự án lọc, hóa dầu trải dài từ Thanh Hóa đến Cần Thơ dù theo chiến lược phát triển ngành dầu khí Việt Nam tới năm 2020 (ban đầu) chỉ có ba nhà máy lọc, hóa dầu tại Quảng Ngãi, Thanh Hóa và Bà Rịa - Vũng Tàu.
Đã qua 7 năm lọc dầu Dung Quất vẫn chưa có khả năng cạnh tranh với các dự án nước ngoài. Ảnh: Trí Tín
Ngoài Nhà máy Dung Quất và một nhà máy có quy mô nhỏ có tên Cát Lái ở TP HCM đang hoạt động thì còn có thêm sáu dự án khác. Cụ thể, đó là dự án lọc dầu Nghi Sơn (Thanh Hóa), Vũng Rô (Phú Yên), Nam Vân Phong (Khánh Hòa), Nhơn Hội (Victory, Bình Định), Long Sơn (Bà Rịa - Vũng Tàu) và một dự án tại Cần Thơ.
Vấn đề là, Dung Quất đã được hưởng ưu đãi thì các dự án sau đó cũng muốn được những quyền lợi tương tự. Và không ai khác, chính các chính quyền địa phương đã tham gia cùng các chủ đầu tư “chạy” xin ưu đãi, như một cách để thu hút dự án tỉ đô về cho địa phương mình.
Đơn cử là trường hợp dự án tổ hợp lọc, hóa dầu Nhơn Hội. Thông qua chính quyền địa phương, chủ đầu tư là tập đoàn Dầu khí Thái Lan (PTT) và tập đoàn Dầu mỏ Saudi Aramco của Ảrập Saudi mong muốn Chính phủ áp dụng cơ chế ưu đãi cho dự án này như những dự án đang được triển khai tại Việt Nam. Đây được coi là một trong những điều kiện quan trọng để chủ đầu tư quyết định có thực hiện dự án hay không.
Sau nhiều tranh cãi và phản đối của các bộ ngành, cuối cùng, vào cuối năm 2014, Thủ tướng đã phê duyệt bổ sung dự án này vào quy hoạch chung phát triển ngành dầu khí Việt Nam đến năm 2025. Cùng với đó, Thủ tướng chấp thuận một số ưu đãi đầu tư mà tỉnh Bình Định và Bộ Tài chính đề xuất.
Cụ thể, dự án sẽ thuộc danh mục đặc biệt khuyến khích đầu tư và được hưởng thuế thu nhập doanh nghiệp mức 10% trong 15 năm, miễn thuế trong bốn năm đầu, giảm 50% số thuế phải nộp trong chín năm tiếp theo. Ngoài ra, dự án cũng được miễn tiền thuê đất và thuế nhập khẩu dầu thô cũng như các thiết bị, máy móc, vật tư mà trong nước chưa sản xuất... Riêng thuế xuất khẩu sản phẩm sẽ được xem xét trong giai đoạn thu xếp vốn.
Ngoài ưu đãi trực tiếp, một số địa phương có dự án lọc hóa dầu còn kiến nghị ngân sách trung ương hỗ trợ vốn giải phóng mặt bằng với số tiền lên đến hàng trăm hoặc hàng nghìn tỷ đồng mỗi dự án. Cơ sở của đề xuất này là Quyết định 126 của Thủ tướng ban hành năm 2009, quy định với các dự án lớn, có quy mô vốn trên 20.000 tỷ đồng, ở các khu kinh tế ven biển thuộc vùng có điều kiện khó khăn thì Nhà nước sẽ hỗ trợ nguồn vốn xây dựng hạ tầng.
Theo Giáo sư Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổng công suất thiết kế của các dự án lọc, hóa dầu lên tới gần 65 triệu tấn mỗi năm, vượt xa nguồn cung dầu thô khai thác trong nước. Lượng khai thác dầu thô trong nước tối đa chỉ đạt khoảng 15 triệu tấn mỗi năm. Như vậy để vận hành, Việt Nam phải nhập tới 45-50 triệu tấn dầu để sản xuất ra thành phẩm. 
“Các nước đi trước chúng ta đã phải chịu rất nhiều hậu quả do phát triển công nghiệp hóa dầu: ô nhiễm môi trường, khí thải nhà kính và quan trọng là sử dụng nhiều tài nguyên đất đai... Do đó, việc phát triển công nghiệp khai khoáng, lọc hóa dầu cần ở mức độ vừa phải”, ông Mại nói.
Ở thời điểm hiện tại, trong các dự án lớn, chỉ mới có Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đi vào hoạt động. Thế nhưng, những cái mất của nền kinh tế đã lên đến hàng chục ngàn tỉ đồng.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh, cái giá phải trả cho một số kết quả đáng ghi nhận mà Dung Quất tạo ra (như đã làm chủ công nghệ lọc dầu nhiên liệu, hình thành được đội ngũ cán bộ, công nhân có nghề trong lĩnh vực này) là không hề nhỏ, bao gồm chi phí trực tiếp và chi phí cơ hội.
Chi phí trực tiếp ở đây là các khoản ưu đãi, mà thực chất là những khoản thuế mà Nhà nước đáng lẽ được nhận nếu không có Dung Quất. Còn chi phí cơ hội đó là 3,5 tỷ đôla Mỹ nếu không đầu tư vào Dung Quất mà được đầu tư vào các dự án khác có lợi thế cạnh tranh hoặc những dự án có tính lan tỏa lớn như cơ sở hạ tầng thì có thể đã tác động thúc đẩy kinh tế tăng trưởng lớn hơn.
Tính toán theo số liệu đã được tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) công bố thì tổng số ưu đãi từ năm 2010-2014 mà Dung Quất nhận được khoảng 26.550 tỷ đồng (riêng năm 2014, chỉ mặt hàng xăng và dầu diesel, mức ưu đãi mà Bình Sơn nhận được không nhỏ hơn 2.900 tỷ đồng).
Theo Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh, giả sử số ưu đãi từ nay đến năm 2018 vẫn không tăng thì trong thời kỳ 2010-2018, ưu đãi phải dành cho Dung Quất không ít hơn 2 tỷ đôla Mỹ (khoảng 43.600 tỷ đồng tính theo tỷ giá ở thời điểm này). “Nếu kéo dài đến năm 2027 thì số tiền ưu đãi phải lớn gấp nhiều lần. Và nếu Dung Quất không thể cạnh tranh mà không có ưu đãi thì chi phí để có ngành lọc, hóa dầu là con số lớn không có điểm dừng”, Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh nhận định.
Vấn đề là, nguy cơ phải bảo hộ Dung Quất dài dài rất hiện hữu. Bởi lẽ, đã qua bảy năm nhưng Dung Quất vẫn chưa có khả năng cạnh tranh được với các dự án nước ngoài.
Theo số liệu của PVN, tính từ 2010 - thời điểm Dung Quất đi vào hoạt động đến năm 2014, doanh nghiệp này đã lỗ gần 1.050 tỷ đồng. Nếu không có ưu đãi, thì con số lỗ lũy kế năm năm vừa qua xấp xỉ 27.600 tỷ đồng. Một con số quá lớn so với túi tiền quốc gia.
Theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn

Thứ Ba, 21 tháng 7, 2015

Việc cho phép nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) được mua cổ phần không hạn chế tại DN VN theo Luật DN mới đang gây nhiều ý kiến trái chiều nhau…

Tuy nhiên, ông Nguyễn Đình Cung –Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương lại cho rằng cần phải tạo điều kiện tốt nhất cho nhà đầu tư để hút vốn ngoại, đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa vào giai đoạn tới…

Vậy theo ông với chính sách nới room hiện nay, TTCK VN đã đủ mạnh?

“Nới room” có lẽ là hai từ được nhà ĐTNN và cả trong nước mong mỏi từ nhiều năm nay. Việc mở room cho các nhà đầu tư ngoại chính là một trong những chính sách thu hút mạnh mẽ hơn dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đầu tư vào thị trường chứng khoán (TTCK). Đây cũng là định hướng được Chính phủ theo đuổi suốt thời gian qua, đồng thời phù hợp với các cam kết quốc tế (WTO).
Hiện nay, VN có 91 triệu dân, nhưng mức vốn hóa của TTCK chỉ khoảng 46 tỷ USD, tương đương 25% GDP. Trong khi đó, Philippines, với 99 triệu dân, vốn hóa của thị trường chứng khoán khoảng 184 tỷ USD, tương đương 65% GDP; Thái Lan, với 69 triệu dân, vốn hóa của TTCK khoảng 418 tỷ USD, tương đương 112% GDP; Singapore với 5 triệu dân, mức vốn hóa của TTCK khoảng 415 tỷ USD…
Với quy mô còn khiêm tốn như trên, TTCK hiện tại của VN sẽ không đủ mạnh để hỗ trợ quá trình CPH. Tổng giá trị các DN nhà nước (DNNN) sẽ được CPH trong 3 năm tới ước tính khoảng 25 tỷ USD.
Như vậy, Chính phủ ban hành Nghị định 60/2015, không chỉ có tác động tích cực đến sự phát triển của TTCK, mà còn thúc đẩy quá trình CPH mà Chính phủ đang quyết liệt triển khai. Khi Nghị định 60/2015 có hiệu lực, thông qua cơ chế nới room, tôi hy vọng thời gian tới nhà ĐTNN sẽ tăng cường các hoạt động đầu tư vào TTCK VN.
Nói như ông, việc hút vốn của nhà đầu tư sẽ tác động trực tiếp lên tiến trình cổ phần hóa?
Đúng vậy, nới room là câu chuyện được thị trường, giới đầu tư trong và ngoài nước chờ đợi từ nhiều năm nay. Việc Chính phủ vừa cho phép nới room sẽ có tác động tích cực đến TTCK cả về trước mắt và dài hạn. Đồng thời việc nới room cũng nhắm tới mục tiêu đây sẽ là thị trường vốn hỗ trợ mạnh cho chương trình CPH khu vực DNNN.
Một nội dung quan trọng được nhiều nhà đầu tư quan tâm là tỷ lệ nới room (tỷ lệ sở hữu) cho nhà ĐTNN tham gia thị trường chứng khoán Việt Nam đối với hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực đều không giới hạn và có thể lên tới 100.
Thưa ông, giới đầu tư đang quan tâm là tỷ lệ nới room đối với từng ngành, lĩnh vực cụ thể ra sao bởi có nhiều ý kiến cho rằng cổ phiếu tốt hiện nay đã kín room?
Tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của các nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán hiện nay
Với những lĩnh vực mà pháp luật chuyên ngành có quy định về tỷ lệ sở hữu tối đa áp dụng đối với nhà ĐTNN, thì áp dụng theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Những ngành, lĩnh vực mà Việt Nam cam kết mở cửa khi gia WTO, tỷ lệ sở hữu áp dụng đối với nhà ĐTNN tuân thủ theo nội dung cam kết.
Với những ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, thì việc nới room phải thỏa mãn các điều kiện đặt ra. Còn lại những ngành nghề, lĩnh vực mà không có quy định khống chế về tỷ lệ sở hữu đối với nhà ĐTNN, thì mở room tối đa; trong đó, tỷ lệ room áp dụng đối với nhà ĐTNN sẽ do các DN tự quyết định.
Hiện nay, trong số hơn 600 DN đang niêm yết trên hai sở GDCK hiện tại, số lượng cổ phiếu tốt, chất lượng cao không nhiều và đã kín room với nhà đầu tư ngoại, nên phần nào cản trở dòng vốn đầu tư nước ngoài tham gia TTCK Việt Nam. Do đó, khi quyết định nới room có hiệu lực, sẽ có nhiều món ngon hơn để các nhà ĐTNN lựa chọn.
Liệu sự phân hóa của các nhóm ngành sẽ ra sao, thưa ông?
Với các DN cổ phần hình thành từ CPH, nếu cổ đông Nhà nước tiếp tục nắm giữ cổ phần, mà không sớm thoái bớt, trong khi nếu đây là những cổ phiếu nhà ĐTNN có nhu cầu tăng tỷ lệ sở hữu, thì hiệu ứng tác động của nới room sẽ hạn chế.
Tương tự, với những công ty, hoặc nhóm công ty mang tính chất gia đình, nếu họ tiếp tục muốn tăng tỷ lệ sở hữu, chứ không phải bán bớt cổ phiếu, thì cơ hội tăng tỷ lệ sở hữu với NĐT ngoại cũng gặp khó khăn.
Với các DN cổ phần tư nhân hoạt động trong những lĩnh vực tiềm năng mà NĐT nước ngoài quan tâm, nếu chủ DN sẵn sàng mở cửa để đón nhận nhân tố nước ngoài xuất hiện nhằm nâng cao chất lượng quản trị, cải thiện năng lực về vốn, công nghệ…, thì nhóm DN này có thể tạo hiệu ứng rất tích cực từ động thái nới room.
Việc nới room sẽ tác động hai chiều các DN, trong đó có nhóm ngành dịch vụ chứng khoán, đặc biệt là dịch vụ tư vấn mua bán, sáp nhập. Còn nhiều vấn đề phải được giải quyết để nhà ĐTNN có thể sở hữu đến 100% các Cty niêm yết, trong đó có hoàn thiện hành lang pháp lý về sở hữu tài sản là bất động sản…
Nhà ĐTNN cũng được đầu tư không hạn chế vào chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán, cổ phiếu của cty đầu tư chứng khoán, cổ phiếu không có quyền biểu quyết của công ty đại chúng, chứng khoán phái sinh, chứng chỉ lưu ký, trừ trường hợp điều lệ của tổ chức phát hành có quy định khác. Ngoại trừ quỹ mở, quỹ đầu tư chứng khoán có tỷ lệ sở hữu nước ngoài đạt từ 51% trở lên, thực hiện điều kiện và thủ tục đầu tư theo quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài khi góp vốn, mua chứng khoán, phần vốn góp của tổ chức kinh tế.
Việc nới room cũng sẽ mở rộng đối tượng đầu tư và mang lại thêm cho chính các DN nhiều cơ hội hợp tác với nhiều nhà đầu tư tiềm năng khác.
Tương tự như các nhóm ngành, lĩnh vực khác, việc nới room sẽ đặt nhóm ngành dịch vụ chứng khoán đối mặt với nhiều áp lực cạnh tranh hơn, nhưng yếu tố tích cực là thị trường và nhà đầu tư sẽ có cơ hội sử dụng các dịch vụ đa dạng, có chất lượng tốt hơn.
Xin cảm ơn ông!
Từ ngày 1/9/2015, Nghị định 60/2015/NĐ-CP có hiệu lực cũng mở lối cho nhà đầu tư ngoại đầu tư không giới hạn vào trái phiếu Chính phủ. Về việc đầu tư vào trái phiếu của nhà ĐTNN, nghị định quy định, nhà ĐTNN được đầu tư không hạn chế vào trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu DN, trừ trường hợp pháp luật có liên quan hoặc tổ chức phát hành có quy định khác. Trường hợp phát hành trái phiếu chuyển đổi, tổ chức phát hành phải đảm bảo tỷ lệ sở hữu nước ngoài khi đến hạn chuyển đổi thành cổ phiếu hoặc đến thời hạn mua cổ phiếu tuân thủ quy định về tỷ lệ sở hữu nước ngoài.

Gallery

Most Commented

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

2014 © Planer - Responsive Blogger Magazine Theme - Published By Gooyaabi Templates
Planer theme by Way2themes