Thứ Hai, 29 tháng 6, 2015


Khái niệm đầu tư nước ngoài
Cho đến nay, đầu tư không phải là một khái niệm mới đối với nhiều người, nhất là đối với những người hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, thuật ngữ này lại được hiểu rẩt khác nhau. Có người cho rằng đầu tư là phải bỏ một cái gì đó vào một việc nhất định để thu lại một lợi ích trong tương lai. Nhưng cũng có người lại quan niệm đầu tư là các hoạt động sản xuất kinh doanh để thu lợi nhuận. Thậm chí thuật ngữ này thường được sử dụng rộng rãi, như câu cửa miệng để nói lên chi phí về thời gian, sức lực và tiền bạc vào mọi hoạt động của con người trong cuộc sống.

Vậy đầu tư theo đúng nghĩa của nó là gì? Những đặc trưng nào quyết định một hoạt động được gọi là đầu tư? Mặc dù vẫn còn có khá nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này, nhưng có thể đưa ra một khái niệm cơ bản về đầu tư được nhiều người thừa nhận, đó là “đầu tư là việc sử dụng một lượng tài sản nhất định như vốn, công nghệ, đất đai, … vào một hoạt động kinh tế cụ thể nhằm tạo ra một hoặc nhiều sản phẩm cho xã hội để thu lợi nhuận”. Người bỏ ra một số lượng tài sản được gọi là nhà đầu tư hay chủ đầu tư. Chủ đầu tư có thể là các tổ chức, cá nhân và cũng có thể là nhà nước.

Có hai đặc trưng quan trọng để phân biệt một hoạt động được gọi là đầu tư hay không, đó là: tính sinh lãi và độ rủi ro của công cuộc đầu tư. Thực vậy, người ta không thể bỏ ra một lượng tài sản mà lại không dự tính thu được giá trị cao hơn giá trị ban đầu. Tuy nhiên, nếu mọi hoạt động đầu tư nào cũng sinh lãi thì trong xã hội thì ai cũng muốn trở thành nhà đầu tư. Chính hai thuộc tính này đã sàng lọc các nhà đầu tư và thúc đẩy sản xuất – xã hội phát triển.

Qua hai đặc trưng trên cho thấy, rõ ràng mục đích của hoạt động đầu tư là lợi nhuận. Vì thế, cần hiểu rằng bất kỳ sự chi phí nào về thời gian, sức lực và tiền bạc vào một hoạt động nào đó mà không có mục đích thu lợi nhuận thì không thuộc về khái niệm về đầu tư.

Đầu tư nước ngoài

Khái niệm:

Đầu tư nước ngoài là sự dịch chuyển tài sản như vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý từ nước này sang nước khác để kinh doanh nhằm thu lợi nhuận cao trên phạm vi toàn cầu.

Các hình thức đầu tư nước ngoài.

Theo tính chất quản lý:

Đầu tư trực tiếp (FDI-Foreign Direct Investment) và đầu tư gián tiếp (PFI-Portfolio Foreign Investment).

Đầu tư gián tiếp thường do Chính phủ các nước, tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ của một nước cho một nước khác (thường là nước đang phát triển) vay vốn dưới nhiều hình thức viện trợ hoàn lại và không hoàn lại. Theo loại hình này bên nhận vốn có toàn quyền quyết định việc sử dụng vốn như thế nào để đạt được kết quả cao nhất, còn bên cho vay hoặc viện trợ không chịu rủi ro và hiệu quả vốn vay. Loại hình đầu tư này thường kèm theo điều kiện ràng buộc về kinh tế hay chính trị cho nước nhận vốn. Do vậy hình thức đầu tư này không chiếm tỷ trọng lớn trong vốn đầu tư quốc tế, nó thường chỉ dùng cho các nước đang phát triển có nhu cầu cấp thiết về vốn.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức mà trong đó các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư sang nước khác và trực tiếp quản lý hoặc tham gia quá trình sử dụng và thu hồi số vốn đầu tư bỏ ra.

FDI được thực hiện theo hai kênh chủ yếu: đầu tư mới (greenfield investment-GI) và mua lại&sát nhập (Mergers and Acquisitions-M&A). Đầu tư mới là các chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở nước ngoài thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới. Đây là kênh đầu tư truyền thống của FDI và cũng là kênh đầu tư chủ yếu để các nhà đầu tư ở các nước phát triển đầu tư vào các nước đang phát triển. Ngược lại, không giống như GI, M&A là các chủ đầu tư tiến hành đầu tư thông qua việc mua lại và sát nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài. Kênh đầu tư này được thực hiện ở các nước phát triển, các nước mới công nghiệp hóa và rất phổ biến trong những năm gần đây. Ở Việt Nam, FDI được chủ yếu thực hiện theo kênh GI.

FDI nói chung là việc các thương gia đưa vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý ra nước ngoài và khống chế nguồn vốn đầu tư trong quá trình phát triển sản xuất kinh doanh theo lĩnh vực đầu tư đó. Xuất phát từ nhu cầu truy tìm lợi nhuận cao và giành được tiếng nói hiệu quả trong sản xuất kinh doanh, các nhà đầu tư tiến hành đầu tư sang nước khác mà ở đó tập trung nhiều điều kiện thuận lợi hơn so với việc đầu tư trong nước như tranh đoạt thị trường ở nước sở tại, tranh thủ các ưu đãi về đầu tư, tận dụng nguồn nhân công rẻ, khai thác tài nguyên thiên nhiên… từ đó tối đa hóa lợi nhuận trên cùng một đồng vốn bỏ ra. Đối với các nước đang phát triển thì vấn đề vốn là hết sức cần thiết cho sự phát triển kinh tế - xã hội, trong khi đó việc huy động nguồn vốn trong nước không phải là dễ dàng, lại càng không thể chỉ dựa vào sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên để tiến hành tích lũy tư bản, do đó vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói chỉ được phá vỡ khi các nước này mở của để thu hút đầu tư nước ngoài.

FDI được xem là chất xúc tác không thể thiếu nhằm làm cho nền kinh tế có được sự tăng trưởng cao. Tuy nhiên, việc thu hút FDI sẽ gặp không ít khó khăn khi các nước đang phát triển có cơ sở hạ tầng còn yếu kém, luật pháp còn nhiều cản trở … Do đó các quốc gia sẽ phải cải thiện môi trường đầu tư thông thoáng hơn nữa tạo sự hấp dẫn hơn nữa để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.

Theo chiến lược đầu tư: Đầu tư mới và Mua lại & Sát nhập

- Đầu tư mới (Greenfield Investment): Là việc các chủ đầu tư thực hiện đầu tư mới ở nước ngoài thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới. Đây là kênh đầu tư truyền thống của FDI và cũng là kênh chủ yếu để các nhà đầu tư các nước phát triển đầu tư vào nước đang phát triển.

- Mua lại và sát nhập (Mergers and Accquistions): Là hình thức khi các chủ đầu tư thông qua việc mua lại và sát nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài. Kênh này chủ yếu ở các nước phát triển NICs (Các nước công nghiệp mới).

Đầu tư theo chiều dọc và đầu tư theo chiều ngang.

- Đầu tư theo chiều dọc (Vertical Intergration – Tích hợp dọc): Các nhà đầu tư đi chuyên sâu vào một hoặc một vài mặt hàng. Ở các loại mặt hàng này các nhà đầu tư sản xuất từ A đến Z. Đây là hình thức khi nhà đầu tư thực hiện đầu tư ra nước ngoài với mục đích khai thác nguồn nhiên liệu tự nhiên và các yếu tố đầu vào rẻ (lao động, đất đai,…). Ưu điểm: Lợi nhuận cao vì lấy được ở tất cả các khâu nhưng rủi ro cao, thị trường không rộng.

- Đầu tư theo chiều ngang (Horizontal Intergration – Tích hợp ngang): Nhà đầu tư mở rộng và thôn tính thị trường nước ngoài cùng một loại sản phẩm có lợi thế cạnh tranh ở nước ngoài, hình thức này thường dẫn đến độc quyền. Theo hình thức này, nhà đầu tư tổ chức kinh doanh nhiều nhóm sản phẩm và hàng hóa trên phạm vi rộng. Hình thức này có ưu điểm rủi ro thấp nhưng lợi nhuận không cao.

Các hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc Hội thông qua ngày 29/12/1987 và nhiều lần sửa đổi bổ sung cùng với một số lớn các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định: Các tổ chức, cá nhân nước ngoài được đầu tư vào Việt Nam dưới các hình thức:

* Hợp đồng hợp tác kinh doanh

* Doanh nghiệp liên doanh

* Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

Hợp đồng hợp tác kinh doanh.

Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai hay nhiều bên (gọi là các bên hợp doanh) quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh tại Việt Nam mà không thành lập pháp nhân mới.

Hợp đồng hợp tác kinh doanh phải có sự tham gia hay bên hợp doanh là nước ngoài, hợp đồng này khác với các loại hợp đồng khác đó là nó phân chia kết quả kinh doanh và trách nhiệm cho các bên cụ thể được ghi trong hợp đồng, không áp dụng đối với hợp đồng thương mại, hợp đồng giao nhận sản phẩm, mua thiết bị trả chậm và các hợp đồng khác không phân chia lợi nhuận. Nội dung chính của hợp đồng này bao gồm:

- Quốc tịch, địa chỉ, đại diện có thẩm quyền của các bên hợp doanh

- Mục tiêu và phạm vi kinh doanh

- Sản phẩm chủ yếu, tỷ lệ xuất khẩu và tiêu thụ sản phẩm trong nước

- Quyền và nghĩa vụ của các bên hợp doanh

- Đóng góp của các bên hợp doanh, phân chia kết quả kinh doanh, tiến độ thực hiện hợp đồng

Trong quá trình kinh doanh các bên hợp doanh các bên hợp doanh được phép thỏa thuận thành lập ban điều phối để theo dõi giám sát công việc thực hiện hợp đồng, nhưng ban điều phối không phải là đại diện pháp lý cho các bên hợp doanh. Mỗi bên hợp doanh phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình trước pháp luật và có các nghiã vụ tài chính không giống nhau. Bên Việt Nam chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam theo luật doanh nghiệp mới ban hành. Bên nước ngoài chịu sự điều chỉnh của luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Trong quá trình hoạt động các bên hợp doanh được quyền chuyển nhượng vốn cho các đối tượng khác những cũng phải ưu tiên cho các đối tượng đang hợp tác.

Ưu điểm:

- Phát huy được năng lực sản xuất, người lao động có thêm việc làm, có thêm sản phẩm và thu nhập, công nhân và kỹ sư có có hội làm quen và học tập kinh nghiệm của họ.

- Là hình thức sản xuất theo hợp đồng phân chia sản phẩm, phía Việt Nam không chịu rủi ro.

Nhược điểm:

Hình thức này chỉ nhận được kỹ thuật trung bình, ở trình độ thấp so với nước ngoài, đòi hỏi hàm lượng lao động sống cao, chủ yếu nhà đầu tư khai thác lao động trẻ.

Doanh nghiệp liên doanh.

Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai hay nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc Hiệp định ký giữa Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài hoặc là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng kinh doanh.

Hợp đồng liên doanh là văn bản ký kết giữa các bên Việt Nam với các bên nước ngoài để thành lập doanh nghiệp liên doanh tại Việt Nam. Doanh nghiệp liên doanh có sự sở hữu hỗn hợp giữa bên Việt Nam và bên nước ngoài, được thành lập theo hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân mang quốc tịch Việt Nam, do đó phải tuân theo các quy định của pháp luật Việt Nam, chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn đóng góp đối với các khoản nợ và các nghĩa vụ tài chính khác.

Vốn góp của bên nước ngoài và bên Việt Nam được gọi là vốn pháp định, theo quy định của Việt Nam thì tổng vốn pháp định phải lớn hơn hoặc bằng 30% tổng vốn đầu tư. Vốn góp của nước ngoài do các bên tự thỏa thuận nhưng không được thấp hơn 30% vốn pháp định, tất cả quy định này được ghi cụ thể trong điều lệ của công ty.

Ưu điểm:

- Nhập được kỹ thuật công nghệ tiên tiến của nước ngoài để nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới thế hệ sản phẩm, tăng thêm năng lực sản xuất trong nước.

- áp dụng được kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài, nâng cao trình độ quản lý của nước chủ nhà, đào tạo bồi dưỡng nhân tài.

- Nhà đầu tư nước ngoài quan tâm hơn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, tạo điều kiện tốt để bảo vệ vốn đầu tư, tăng cường kiểm soát chất lượng sản phẩm, đưa sản phẩm ra thị trường thế giới trong thời gian liên doanh và sau liên doanh, tiết kiệm vốn đầu tư.

- Xí nghiệp liên doanh góp vốn chịu sự quản lý, kiểm tra của các cơ quan cấp trên tất cả các mặt hoạt động sản xuất, lưu thông, tài chính, kế hoạch.

- Nước chủ nhà vừa tận dụng được các khoản đầu tư, vừa khai thác được lợi thế trong nước (nguồn tài nguyên, lao động). Hình thức liên doanh đem lại cho nước chủ nhà không chỉ ở sự giàu có về tư liệu sản xuất mà còn ở sự lớn khôn nhanh chóng của người lao động. Nhờ sức mạnh liên doanh quốc tế đã nhanh chóng gắn nền kinh tế trong nước lại với thị trường thế giới. Kết quả là nền kinh tế không bị khép kín trong phạm vi quốcd gia, sự liên doanh hợp tác quốc tế ngày càng phát triển càng trở thành động lực cho nền kinh tế trong nước.

Nhược điểm:

Doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài là một hình thức kinh tế hỗn hợp giữa các bên có chế độ chính trị khác nhau nên dễ dẫn đến mâu thuẫn nội bộ tranh chấp quyền lợi. Phía trong nước mà năng lực yếu kém thì liên doanh không tồn tại lâu dài.

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

Đây là hình thức doanh nghiệp được thành lập tại nước sở tại, có tư cách pháp nhân riêng theo luật của nước sở tại với 100% vốn của đối tác nước ngoài. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài do phía nước ngoài toàn quyền quản lý, điều hành doanh nghiệp, tự do tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh trong phạm vi pháp luật nước chủ nhà quy định.

Ưu điểm:

- Dùng hình thức này sẽ không nguy hiểm và không chịu rủi ro, nó làm tăng thêm một số sản phẩm và lợi nhuận mà nhà nước không phải bỏ vốn và điều hành doanh nghiệp. Nó chỉ là hợp đồng cho thuê, nhà đầu tư đi thuê không thể trở thành sở hữu tài sản. Quyền sở hữu vẫn là của nước sở tại.

- Vì không phải chia sẻ quyền sở hữu và lợi nhuận nên hình thức này có ưu điểm là nhà đầu tư nước ngoài rất tích cực đầu tư, thiết bị, công nghệ mới, tích cực đào tạo nâng cao tay nghề cho người lao động, cán bộ quản lý xí nghiệp.

Nhược điểm:

Sự kiểm tra, kiểm soát đối với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài bị hạn chế. Nguồn nguyên liệu, vật liệu của doanh nghiệp nằm ngoài hệ thống cân đối quốc gia.

Hình thức hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao.

* Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT): là văn bản ký kết giữa Cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật (như cầu đường, sân bay, bến cảng, …tại Việt Nam) trong một khoảng thời gian nhất định. Với hình thức này, các chủ đầu tư chịu trách nhiệm tiến hành xây dựng và kinh doanh công trình trong một thời gian để thu hồi đủ vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý. Sau khi dự án kết thúc, toàn bộ công trình sẽ được chuyển giao cho nước chủ nhà mà không thu bất cứ khoản tiền nào.

* Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO): với hình thức này, sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình cho nước chủ nhà. Chính phủ nước chủ nhà giành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong thời gian nhất định để thu hồi đủ vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý.

* Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT): với hình thức này, sau khi xây dựng xong, chủ đầu tư chuyển giao công trình cho nước chủ nhà. Nước chủ nhà sẽ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi đủ vốn đầu tư.

Ưu điểm:

Các nhà đầu tư phải chịu trách nhiệm về giá trị sử dụng và độ an toàn đối với công trình của mình trong một khoảng thời gian do hợp đồng quy định sau khi chuyển giao. Ưu điểm cơ bản của hợp đồng này là nhà đầu tư sẽ tiêu thụ một khối lượng lớn thiết bị tại nước ngoài theo các ưu đãi, còn bên nước sở tại thì sẽ được cả công trình hoàn chỉnh mà không cần phải bỏ vốn ra quá lớn ban đầu. Do không phải bỏ vốn đầu tư ban đầu nên việc xây dựng các công trình này sẽ không gây hậu quả cho nền tài chính quốc gia. Bù lại, nhà đầu tư nước ngoài được hưởng nhiều ưu đãi về thuế, tạo thuận lợi về thủ tục được chính phủ bảo hộ vốn đầu tư và các quyền lợi hợp pháp khác.

Nhược điểm:

Dự án BOT, BTO, BT có mức độ rủi ro khá cao đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống pháp lý hoàn thiện và hợp lý để áp dụng cụ thể hình thức này.

Hình thức khu chế xuất, khu công nghiệp và khu công nghệ cao.

Khu chế xuất, khu công nghiệp và khu công nghệ cao là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất sản phẩm công nghiệp, sản phẩm dùng để xuất khẩu, sản phẩm công nghệ cao và các hoạt động dịch vụ phục vụ cho hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp này, có ranh giới địa lý xác định và không có dân cư sinh sống.

Thông thường các nước đang phát triển muốn thu hút được FDI thì phải đảm bảo các yếu tố cần thiết cho môi trường đầu tư như môi trường pháp lý, cơ sở hạ tầng … Ưu điểm của hình thức này: Thuận lợi về vị trí giao thông vận tải, thông tin liên lạc, tiếp cận thị trường. Nơi đây có cơ sở hạ tầng tốt, lao động dồi dào, thời gian thuê hợp lý và môi trường pháp lý thuận lợi, nhất quán.
Được sự hỗ trợ của Chương trình Xúc tiến Thương mại trọng điểm Quốc gia năm 2015 thông qua Cục Xúc Tiến Thương mại (Bộ Công Thương), Hiệp Hội Da giầy-Túi xách Việt nam (Lefaso) sẽ tổ chức Hội nghị Xúc tiến Xuất khẩu Da giày với chủ đề nâng cao năng lực kinh doanh, xuất khẩu cho các DN da giày Việt Nam vào ngày 15/07/2015 tại TP. Hồ Chí Minh.
Bà Phan Thị Thanh Xuân, Tổng thư ký Lefaso
Phóng viên đã có cuộc phỏng vấn với bà Phan Thị Thanh Xuân, Tổng thư ký Hiệp hội Da-Giày-Túi xách Việt Nam (Lefaso) trước thềm hội nghị về những cơ hội hợp tác xuất khẩu với các đối tác nước ngoài. 

Bà đánh giá như thế nào về sự phát triển của ngành da giày Việt Nam hiện nay? 

Ngành Da Giầy Việt Nam là một trong những ngành kinh tế xuất khẩu mũi nhọn, góp phần tăng trưởng GDP của quốc gia. Mặc dù giá trị gia tăng của ngành da giầy không lớn nhưng với trên 800 DN, 1 triệu lao động, ngành da giầy đã mang lại công việc cho một số lượng lớn lao động phổ thông, trong đó số lao động nữ chiếm tới 85%. 

Theo số liệu thống kê, Việt Nam nằm trong top 4 nước sản xuất giầy dép lớn nhất thế giới về số lượng sau Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil, nhưng là nước xuất khẩu lớn thứ 3 trên thế giới về trị giá, sau Trung Quốc và Italia. Sản phẩm giầy dép của Việt Nam đã xuất khẩu tới trên 50 nước, tại Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản, giầy dép Việt Nam tiếp tục tăng thị phần và đứng vị trí thứ hai sau Trung Quốc. Sản phẩm túi xách có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nhanh, hiện đã có mặt tại trên 40 nước.

Không chỉ có tiềm lực, ngành cũng sẽ nhiều cơ hội hợp tác, tăng cường xuất khẩu khi các hiệp định thương mại tự do có hiệu lực trong vòng 1-2 năm tới, thưa bà? 

Nhiều Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã và đang được Chính phủ tích cực đàm phán với các nước sẽ có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của ngành. Trong đó, nổi bật vẫn là Hiệp định với Khối 12 nước Châu Á Thái bình dương (gọi tắt là TPP), với Liên Minh Châu Âu (gọi tắt là FTAEV), với Liên Minh Hải Quan Nga-Belarus-Kazakhstan, với các Hiệp định của Khối ASEAN sẽ có hiệu lực trong 2015… 

Khi Việt Nam tham gia vào Hiệp định TPP thì lợi thế trước tiên là xóa bỏ mức thuế hiện tại từ 3,5 - 57.4% để hưởng ưu đãi các dòng sản phẩm da giày về mức 0%, từ đó giúp DN ngành da giày tăng trưởng xuất khẩu. Đây không chỉ được coi là cú huých mà còn là cơ hội vàng cho ngành da giày phát triển cả về số lượng và chất lượng.

Hiện khối ASEAN đã có Hiệp định FTA riêng với từng nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Úc và New Zealand. ASEAN cũng đang đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) chung giữa ASEAN với cả 6 nước nói trên (ASEAN+6), hình thành một khu vực FTA lớn gồm 16 nước với dân số hơn 3 tỷ người. Việt Nam có cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu sang các nước Đông Á, Ấn Độ và Australia. 

Đặc biệt, ngày 5/5/2015 vừa qua, Việt Nam đã ký Hiệp định FTA với Hàn Quốc và ngày 29/5/2015 đã ký Hiệp định FTA với Khu vực kinh tế Á- Âu (Liên minh Hải quan), hiện Chính phủ các nước đang thực hiện thủ tục phê chuẩn để các hiệp định này sớm có hiệu lực.
Trong 6 tháng đầu năm 2015, Việt Nam cũng đã có các cuộc đàm phán để hoàn tất FTA Việt Nam – EU và Hiệp định TPP, dự kiến ký kết trong năm 2015. 

Các FTA sẽ có hiệu lực trong 1-2 năm tới, nên năm 2015 chưa có tác động trực tiếp tăng kim ngạch xuất khẩu, nhưng đã tạo môi trường thuận lợi thu hút đầu tư nước ngoài để sản xuất nguyên phụ liệu và sản phẩm xuất khẩu tại Việt Nam.

Có nhiều lợi thế xuất khẩu nhưng tại sao ngành da giày Việt Nam vẫn đang khá lận đận trong việc tìm hướng xuất khẩu, thưa bà? 

Có nhiều nguyên nhân khiến cho ngành da giầy Việt Nam vẫn còn lận đận trong việc tìm hướng xuất khẩu, chủ yếu là gia công xuất khẩu, nguồn cung ứng nguyên phụ liệu (NPL) do nước ngoài chỉ định, năng lực thiết kế mẫu mã còn yếu, thiếu đồng bộ trong phát triển sản xuất và cung ứng nguyên phụ liệu. 

Một số loại nguyên phụ liệu chưa có hoặc có rất ít cơ sở sản xuất: giả da, vải không dệt, vải kỹ thuật, cactoong (texon làm đế trong), vật liệu làm pho, phụ liệu, phụ kiện (bằng kim loại, chất dẻo), keo dán và hóa chất. Các loại này hiện nay cung cấp dưới 20%.

Bên cạnh đó, chất lượng sản phẩm (nguyên phụ liệu) của một số doanh nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu xuất khẩu (các chỉ tiêu cơ lý, thẩm mỹ như độ đều màu, bền màu ..., các yêu cầu về an toàn sinh thái). Các doanh nghiệp sản xuất có sản phẩm đáp ứng yêu cầu xuất khẩu nhưng chưa đáp ứng được tiến độ giao hàng (do sự thay đổi mẫu mã nhanh chóng và thời gian cung cấp ngắn).

Ngoài ra, trình độ công nghệ, nhân lực cho ngành da giầy ở Việt Nam còn nhiều hạn chế nên sản xuất nguyên phụ liệu sẽ gặp khó khăn, đặc biệt hiện nay công nghệ sản xuất nguyên phụ liệu đã ở mức rất cao. Đặc biệt, Việt Nam chưa có quy hoạch vùng nguyên liệu cho sản xuất nguyên vật liệu ngành da giầy: da nguyên liệu, xơ bông, xơ nhân tạo, hóa chất ... 
Hội nghị xúc tiến xuất khẩu ngành da giày lần thứ 3 sẽ tạo cơ hội và giải pháp tháo gỡ khó khăn nội tại, tìm hướng đi cho xuất khẩu da giày Việt Nam như thế nào, thưa bà? 

Hội nghị là cơ hội để Hiệp hội và Ngành Da - Giầy - Túi xách Việt Nam quảng bá hình ảnh, sự lớn mạnh của Ngành trong những năm qua, sẽ nâng cao uy tín, vị thế và ảnh hưởng của Ngành và Hiệp hội trong Khu vực Châu Á và trên thế giới, đồng thời là cơ hội thuận lợi để các doanh nghiệp Việt Nam gặp gỡ, giao lưu, tiếp thu sự chia sẻ kinh nghiệm giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước… nhằm  thúc đẩy quan hệ hợp tác xuất khẩu, giới thiệu năng lực và khả năng của doanh nghiệp. 

Tại hội nghị, hơn 200 doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu giày, nguyên phụ liệu tại Việt Nam và nước ngoài sẽ cùng nhau thảo luận một số nội dung hội thảo như: Tiềm năng xuất khẩu của ngành Da - Giầy - Túi xách Việt Nam, đánh giá nhu cầu thị trường, những thuận lợi khó khăn, cơ hội thách thức trong xuất khẩu ; Các rào cản trong thương mại quốc tế liên quan tới sản phẩm xuất khẩu của toàn ngành… ; Nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm xuất khẩu của ngành Da - Giầy - Túi xách Việt Nam trong giai đoạn tới (Đến năm 2020).

Chúng tôi kỳ vọng, Hội nghị sẽ mang lại hiệu quả thiết thực cho các DN trong toàn ngành nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác và hiểu biết lẫn nhau, thu hút đầu tư mở rộng sản xuất, tăng đơn hàng và phát triển xuất khẩu. 

Không chỉ vậy, Lefaso cũng mong muốn thông qua Hội nghị quảng bá hình ảnh ngành công nghiệp, giới thiệu tới các đại biểu từ các nước thành viên trong khu vực và trên thế giới tham dự Hội nghị và diễn đàn về tiềm năng xuất khẩu, uy tín của các doanh nghiệp, chất lượng các sản phẩm được sản xuất tại Việt Nam và khả năng đáp ứng những yêu cầu đa dạng phức tạp của các bạn hàng, các nhà nhập khẩu. 

Lefaso đặt ra kỳ vọng là các DN của ngành sẽ hiểu rõ hơn những cơ hội thách thức cũng như thảo luận, đề ra được các giải pháp hiệu quả cho ngành và doanh nghiệp. Cũng qua Hội nghị này, Lefaso mong muốn có sự góp phần tích cực từ các nhà điều hành vĩ mô nhằm tạo điều kiện nhiều hơn nữa thúc đẩy sự phát triển bền vững cho ngành Da giày Việt Nam trong thời kỳ mới.   

Theo Tienphong.vn

Thứ Ba, 23 tháng 6, 2015

Cầu vượt vành đai 3 đoạn Bắc Linh Đàm đến Mai Dịch (Hà Nội) là tuyến đường cao tốc trên cao hiện đại nhất Việt Nam, được xây dựng bằng nguồn vốn ODA. Ảnh: TRẦN HẢI
   Vốn nhà nước dành cho đầu tư chiếm tỷ trọng rất lớn trong GDP, là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế của đất nước. Tuy nguồn vốn dành cho đầu tư thường ít hơn nhiều so với nhu cầu nhưng tình trạng đáng báo động là nợ đọng xây dựng cơ bản (XDCB) từ vốn ngân sách nhà nước (NSNN) hiện nay đã trở nên phổ biến, giống như một căn bệnh khó chữa. Nợ XDCB khiến các nhà thầu không có vốn để thực hiện tái sản xuất, dẫn đến tình trạng nhà thầu chiếm dụng vốn của doanh nghiệp (DN) cung cấp vật tư, chiếm dụng tiền lương của người lao động..., còn chiếm dụng vốn của các tổ chức tín dụng sẽ dẫn tới mất an toàn tài chính.

Giải ngân thấp

   Ước tính đến hết tháng 6-2015, kết quả thanh toán vốn đầu tư XDCB từ nguồn nhà nước đạt thấp hơn cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Vốn XDCB tập trung đã thanh toán đạt trên 81 nghìn tỷ đồng, đạt 45,9% kế hoạch đã giao (cùng kỳ năm 2014 đạt 49,6%); trong đó, nguồn vốn do các bộ, ngành T.Ư quản lý đạt gần 15 nghìn tỷ đồng, đạt 38,9% kế hoạch; nguồn vốn địa phương quản lý đạt gần 67 nghìn tỷ đồng, đạt 47% kế hoạch. Nguồn vốn trái phiếu Chính phủ (TPCP) đã thanh toán đạt gần 28 nghìn tỷ đồng, đạt 36% kế hoạch đã giao (cùng kỳ năm 2014 đạt 40,3%). Trong đó, nguồn vốn do các bộ, ngành T.Ư quản lý đạt gần 15 nghìn tỷ đồng, nguồn vốn địa phương quản lý đạt gần 13 nghìn tỷ đồng.

   Có thể thấy kết quả giải ngân sáu tháng đầu năm 2015 vẫn còn thấp, khi tổng số vốn đầu tư XDCB tập trung giải ngân qua Kho bạc Nhà nước (KBNN) thấp hơn 3,7% so với cùng kỳ; nguồn vốn TPCP thấp hơn tới 4,3% so cùng kỳ. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng giải ngân thấp, trong đó có nguyên nhân cơ chế chính sách liên quan đến lĩnh vực quản lý đầu tư và xây dựng thời gian qua có nhiều thay đổi và có hiệu lực thi hành từ năm 2014, 2015. Có thể kể tới Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu; các Nghị định của Chính phủ, và điều này dẫn đến những dự án, công trình triển khai trong năm 2015 đã phần nào bị ảnh hưởng đến việc triển khai thực hiện, giải ngân, do phải thực hiện điều chỉnh kế hoạch đấu thầu, điều chỉnh hợp đồng...

   Riêng đối với các dự án ODA thì việc giải ngân nguồn vốn này phải trên cơ sở kế hoạch vốn năm được giao, nhưng nhiều dự án ODA được bố trí kế hoạch vốn năm 2015 thấp hơn so với tiến độ thực hiện dự án, thậm chí có một số dự án không được giao kế hoạch vốn ODA năm 2015 nên cũng đã phần nào ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân của các dự án ODA. Không những thế, việc triển khai thực hiện của các chủ đầu tư cũng còn một số vấn đề bất cập, như: công tác hoàn thiện thủ tục đầu tư của các dự án còn chậm so với quy định; công tác đấu thầu, thi công công trình, nghiệm thu khối lượng thanh toán chưa thực hiện ngay từ đầu năm nên việc giải ngân cho dự án còn chậm; chưa giải quyết dứt điểm vướng mắc trong công tác đền bù giải phóng mặt bằng nhằm bàn giao mặt bằng cho dự án triển khai đúng tiến độ.

Cần nhiều giải pháp đồng bộ

   Để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư XDCB trong những tháng còn lại của năm 2015, mặt khác để thực hiện chính sách tài khóa theo chỉ đạo của Chính phủ, thực hiện các biện pháp thiết thực, hiệu quả nhằm tập trung tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh gắn với hỗ trợ phát triển thị trường, Bộ Tài chính đã cam kết bảo đảm nguồn vốn kịp thời thanh toán cho các công trình khi có đủ điều kiện. Đồng thời, Bộ Tài chính kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng khẩn trương hoàn chỉnh các nghị định hướng dẫn Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng để trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành để các bộ, ngành và địa phương có căn cứ thực hiện các nhiệm vụ trong những tháng cuối năm 2015; chỉ đạo các bộ, UBND các tỉnh tích cực, quyết liệt và chủ động trong triển khai kế hoạch đầu tư năm 2015; phối hợp chặt chẽ với cơ quan tài chính, KBNN các cấp trong xử lý, điều hòa, điều chỉnh, thanh toán vốn cho các dự án cụ thể.
Đối với cơ quan tài chính, để các bộ, ngành và địa phương thực hiện kịp thời, đầy đủ các quy định mới về quản lý vốn đầu tư nguồn NSNN và vốn TPCP theo Luật Đầu tư công và các nghị định hướng dẫn kèm theo, Bộ Tài chính sẽ sớm ban hành các Thông tư sửa đổi hướng dẫn liên quan đến quản lý và thanh toán vốn NSNN và TPCP (sửa đổi Thông tư 86, Thông tư 05, Thông tư 19). Tiếp tục báo cáo Thủ tướng Chính phủ để xem xét, giải quyết kịp thời các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện quản lý vốn đầu tư XDCB trong những tháng cuối năm 2015. Đồng thời, Bộ Tài chính sẽ phối hợp chặt chẽ với cơ quan Kế hoạch và Đầu tư để xử lý các vướng mắc trong khâu phân bổ vốn, tạo điều kiện cho các dự án được triển khai sớm.

   Riêng đối với hệ thống KBNN, Bộ Tài chính chỉ đạo KBNN hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ đầu tư trong việc hoàn tất các hồ sơ, thủ tục thanh toán vốn; phối hợp chặt chẽ với chủ đầu tư để xử lý các vướng mắc phát sinh trong quá trình thanh toán, kịp thời báo cáo ngay những vấn đề vượt thẩm quyền để Bộ Tài chính xem xét, giải quyết; tiếp tục cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tránh gây phiền hà cho chủ đầu tư. KBNN tiếp tục thực hiện việc thu hồi tạm ứng đối với các dự án có số dư tạm ứng vốn đầu tư lớn, một số dự án tạm ứng kéo dài từ nhiều năm, đặc biệt số dư tạm ứng đền bù giải phóng mặt bằng, chưa có biện pháp đôn đốc thu hồi quyết liệt (theo thống kê tính đến tháng 5-2015, số dự tạm ứng toàn hệ thống KBNN là hơn 52.252 tỷ đồng).
Bên cạnh đó, KBNN thực hiện thông báo công khai số liệu giải ngân định kỳ đối với nguồn vốn đầu tư XDCB từ các nguồn trên để giúp các bộ, ngành, địa phương tăng cường chỉ đạo thực hiện kế hoạch và giải ngân vốn đầu tư XDCB năm 2015.

   Riêng việc tổ chức rà soát quy trình kiểm soát chi NSNN, đồng thời đề xuất phương án cải cách thủ tục hành chính cần được tiếp tục coi là một trong những biện pháp để hệ thống KBNN hoàn thiện quy trình luân chuyển chứng từ thanh toán vốn đầu tư XDCB, phấn đấu rút ngắn thời gian kiểm soát chi đầu tư trong nội bộ hệ thống KBNN trong thời gian tới. Đồng thời, KBNN cần triển khai thí điểm quy trình giao dịch điện tử thông qua dịch vụ công trên cổng thông tin KBNN.

   Đối với các bộ, ngành và địa phương, việc thực hiện kịp thời, đầy đủ các quy định về quản lý vốn đầu tư nguồn NSNN và TPCP là rất cần thiết. Cùng với đó, cần khẩn trương rà soát, xử lý dứt điểm các bất cập trong việc phân bổ kế hoạch vốn đầu tư năm 2015; sớm hoàn thành công tác phân bổ kế hoạch vốn đợt 3 được Thủ tướng Chính phủ giao, kịp thời báo cáo các vấn đề vượt thẩm quyền; phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính xử lý các vướng mắc trong phân bổ và thực hiện kế hoạch vốn đầu tư; phối hợp với hệ thống KBNN tháo gỡ vướng mắc trong công tác kiểm soát, thanh toán vốn đầu tư.

   Bên cạnh đó, cần rốt ráo chỉ đạo các chủ đầu tư phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương khẩn trương xử lý dứt điểm những dự án còn có vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng để sớm bàn giao mặt bằng cho nhà thầu thi công xây dựng; có biện pháp tháo gỡ khó khăn và chỉ đạo chủ đầu tư thúc đẩy nhà thầu đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án, nghiệm thu khối lượng, hoàn thiện hồ sơ thanh toán gửi KBNN làm cơ sở kiểm soát, thanh toán; phối hợp với KBNN địa phương để đối chiếu, rà soát các khoản dư tạm ứng vốn đầu tư còn tồn đọng, có biện pháp thanh toán để thu hồi số vốn đã tạm ứng. Định kỳ, tổ chức giao ban giữa các chủ đầu tư với các ban quản lý về tình hình thực hiện và giải ngân các dự án để thúc đẩy việc giải ngân vốn nhanh, hết kế hoạch được giao...

   Về công tác quyết toán, Bộ Tài chính đề nghị các bộ, ngành quan tâm chỉ đạo công tác quyết toán vốn đầu tư gồm quyết toán niên độ ngân sách hằng năm và quyết toán dự án hoàn thành.

   Đối với các chủ đầu tư, cần khẩn trương hoàn thiện thủ tục đầu tư, đẩy nhanh đấu thầu, thi công công trình, nghiệm thu khối lượng thanh toán nhằm thực hiện ngay việc giải ngân cho các dự án; tập trung chỉ đạo trong công tác đền bù giải phóng mặt bằng; kiểm tra, chấn chỉnh công tác tạm ứng theo hợp đồng, bảo đảm theo đúng quy định, tránh trường hợp tạm ứng sai mục đích, tạm ứng để chạy vốn, tăng cường công tác kiểm tra các khoản đã tạm ứng. Tích cực xử lý các vướng mắc phát sinh nhằm hoàn thành tốt kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản Nhà nước giao năm 2015. Đồng thời, cần rà soát, khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, thủ tục đầu tư của các dự án, các hợp đồng (đối với những dự án, hợp đồng cần phải điều chỉnh, bổ sung) theo quy định.

   Không những thế, các chủ đầu tư cần tập trung chỉ đạo công tác đền bù giải phóng mặt bằng; phối hợp và tăng cường kiểm tra các nhà thầu, các đơn vị thực hiện nhiệm vụ đền bù giải phóng mặt bằng đối với các khoản đã tạm ứng, bảo đảm vốn tạm ứng được sử dụng đúng đối tượng, đúng quy định; khẩn trương nghiệm thu, hoàn thiện hồ sơ và làm thủ tục thanh toán đối với khối lượng công việc đền bù giải phóng mặt bằng đã hoàn thành để hoàn ứng, giảm số dư tạm ứng vốn đầu tư tại cơ quan KBNN. Ngoài ra, cần phối hợp với nhà thầu khẩn trương nghiệm thu khối lượng ngay sau khi hoàn thành để thanh toán, bảo đảm chính xác, kịp thời tạo điều kiện cho các nhà thầu xây dựng, tránh dồn vào cuối năm.

TRỊNH NAM TUẤN
Quyền Vụ trưởng Đầu tư, Bộ Tài chính

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2015

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc là doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại.

Thành lập công ty Việt Nam có vốn nước ngoài

1 . Hồ sơ thành lập công ty có vốn đầu tư nước ngoài
Đối với nhà đầu tư là cá nhân:  
Bản sao có chứng thực chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu
Xác nhận số dư tài khoản của ngân hàng (chứng minh năng lực tài chính của nhà đầu tư)
Hợp đồng thuê trụ sở.
Đối với nhà đầu tư là tổ chức:
Bản sao giấy phép đăng ký kinh doanh (Có chứng thực đối với công ty trong nước và hợp pháp hóa lãnh sự đối với công ty nước ngoài)
Báo cáo tài chính có kiểm toán hoặc có xác nhận của cơ quan thuế  trong năm gần nhất(hợp pháp hóa lãnh sự đối với công ty nước ngoài)
Bản sao có chứng thực chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu của người đại diện
Điều lệ của công ty chủ quản (hợp pháp hóa lãnh sự đối với công ty nước ngoài)
Văn bản ủy quyền của công ty cho người đại diện (hợp pháp hóa lãnh sự đối với công ty nước ngoài)
Hồ sơ kinh nghiệm và năng lực của nhà đầu tư 
2. Thời gian thành lập công ty có vốn đầu tư nước ngoài
Thời gian : 30 – 45 ngày (Tùy từng trường hợp) 
3. Quy trình thành lập công ty có vốn đầu tư nước ngoài
Việt Luật sẽ tiến hành soạn hồ sơ đăng ký Thành lập công ty có vốn đầu tư nước ngoài cho khách hàng
Đại diện lên Sở kế hoạch và Đầu tư để nộp hồ sơ đăng ký Thành lập công ty có vốn đầu tư nước ngoài cho quý khách hàng
Đại diện nhận kết quả là giấy chứng nhận Đăng ký kinh doanh tại sở KH-ĐT cho khách hàng
Đại diện theo dõi hồ sơ và trả lời của Sở KH-ĐT, thông báo kết quả hồ sơ đã nộp cho khách hàng
Tiến hành thủ tục khắc con dấu cho Doanh nghiệp
Tiến hành thủ tục đăng ký Mã số Thuế và Mã số Hải quan cho Doanh nghiệp
4. Dịch vụ hẫu mãi ( miễn phí)
Soạn thảo nội quy, quy chế của công ty  
Tra cứu thương hiệu, logo  
Lập tờ khai thuế môn bài
Miễn phí kê khai thuế trong tháng đầu 
Tặng 01 dấu chức danh

Công ty Việt Luật cam kết giúp bạn hoàn tất các dịch vụ pháp lý một cách nhanh chóng và hiệu quả. Vui lòng liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn rõ nét !

Quý khách có nhu cầu thành lập công ty Việt Nam có vốn đầu tư nước ngoài vui lòng liên hệ:

CÔNG TY TƯ VẤN VIỆT LUẬT

Trụ sở: Số 126 phố Chùa Láng, Q.Đống Đa, Hà Nội
ĐT: 04.3997.42.88 / 0965.999.345
Email: congtyvietluathanoi@gmail.com
Website: http://thanhlapdoanhnghieptrongoi.com

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2015

Hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra sâu rộng ở các quốc gia, việc các nhà đầu tư nước ngoài liên doanh, liên kết với các công ty Việt Nam hoặc thành lập công ty 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam để sản xuất, kinh doanh là một xu thế tất yếu.

Dịch vụ thành lập công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài

Tuy nhiên, mỗi quốc gia lại có những chính sách riêng về thu hút đầu tư nước ngoài. Hơn nữa, các quy định pháp luật về điều kiện, trình tự thủ tục thành lập pháp nhân ở mỗi quốc gia cũng không giống nhau và sẽ thay đổi theo từng thời kỳ nhất định.

Luật sư của Công ty Việt Luật với nhiều kinh nghiệm thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư và thường xuyên cập nhật các quy định mới của pháp luật trong lĩnh vực này sẽ tư vấn và thực hiện các thủ tục thành lập Công ty liên doanh, 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam nhanh chóng và hiệu quả nhất.

Hồ sơ thủ tục thành lập công ty 100% vốn nước ngoài như sau:
Giấy đề nghị thành lập công ty liên doanh, 100% vốn nước ngoài (Theo mẫu quy định );
Bản danh sách thành viên công ty, kèm theo là Bản sao các giấy tờ chứng thực cá nhân, người đại diện ủy quyền theo pháp luật ;
Bản sao công chứng đã được dịch và hợp pháp hóa lãnh sự của doanh nghiệp nước ngoài muốn đầu tư, liên doanh;
Bản điều lệ công ty liên doanh, 100% vốn nước ngoài ;
Văn bản xác định vốn pháp định, Bản sao chứng chỉ hành nghề của người đứng đầu công ty theo quy định pháp luật với truờng hợp thành lập công ty có điều kiện như trên;
Các công việc mà Công ty Việt Luật sẽ thực hiện là:

Tiếp nhận thông tin từ khách hàng, hồ sơ và yêu cầu của khách hàng;
Tư vấn về các vấn đề trước thành lập công ty như: đặt tên công ty, trụ sở, số vốn, các giấy tờ khác có liên quan ;
Tư vấn soạn thảo Điều lệ công ty, các giấy tờ liên quan khác;
Soạn thảo đơn xin cấp Giấy đăng ký kinh doanh/ Giấy phép đầu tư;
Nộp hồ sơ tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đồng thời cập nhật thường xuyên tình trạng xử lý hồ sơ của cơ quan có thẩm quyền cho Quý khách hàng ;
Nhận/trao Giấy chứng nhận đầu tư và làm thủ tục khắc dấu ;
Tư vấn hỗ trợ thủ tục cần thiết sau thành lập về lĩnh vực hải quan, môi trường, thuế,…vv.
Chúng tôi ước mong trở thành đối tác, điểm tựa pháp lý cho sự pháp triển của Quý doanh nghiệp.

Để biết thêm thông tin chi tiết, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

CÔNG TY TƯ VẤN VIỆT LUẬT

Trụ sở: Số 126 phố Chùa Láng, Q.Đống Đa, Hà Nội
ĐT: 04.3997.42.88 / 0965.999.345
Email: congtyvietluathanoi@gmail.com
Website: http://thanhlapdoanhnghieptrongoi.com
   Bất cứ một công việc nào dù đơn giản hay phức tạp cũng chỉ có thể đạt được kết quả cao, nếu được thực hiện một cách hợp lý. Sự hợp lý có thể là công việc được thực hiện vào thời điểm thích hợp, có thể là công việc được giao phó cho người thích hợp, có thể là cách thức thực hiện công việc thích hợp… Với những công việc được thực hiện khá thường xuyên trên thực tế, con người luôn có xu hướng quan sát, nhận xét, rút kinh nghiệm để lần thực hiện sau thuận lợi, tiết kiệm, có kết quả cao hơn lần trước, dần dần hình thành quy trình ngày càng hợp lý cho quá trình thực hiện công việc đó.
Quy trình” là một thuật ngữ Hán - Việt được sử dụng khá phổ biến trong sinh hoạt xã hội. Trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, thì “quy trình” càng được sử dụng rộng rãi hơn. Bởi vậy, cách hiểu về thuật ngữ này khá thống nhất: đó là những thủ tục mà các chủ thể phải tiến hành khi xúc tiến một hoạt động nào đó. Theo Từ điển tiếng Việt thì “quy trình” được hiểu là “trình tự phải tuân theo để tiến hành một công việc nào đó” [51, tr.813]. Trong Từ điển Oxford có định nghĩa quy trình (Procedure) nghĩa là một trật tự chính thức hay cách thức làm việc nào đó, đặc biệt là trong kinh doanh, chính trị, pháp lý..., là một loạt các hoạt động cần được hoàn thành để đạt được một cái gì đó. Khái niệm quy trình không được đặt ra khi chỉ có một hoạt động đơn lẻ mà chỉ được nói đến khi có nhiều hoạt động khác nhau cần phải tiến hành theo một thứ tự nhất định để hoàn thành một công việc nhất định.

   Theo đó, quy trình cấp Giấy chứng nhận đầu tư có thể hiểu là toàn bộ những công việc cần thiết mà các chủ thể có liên quan phải thực hiện khi cấp Giấy chứng nhận đầu tư.
   Từ nhiều năm nay, hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật liên quan đến lĩnh vực đầu tư nói riêng luôn không ngừng được hoàn thiện trên lộ trình cải cách, điều chỉnh kịp thời cơ chế, chính sách, luật lệ cho phù hợp với “luật chơi” quốc tế, chú trọng việc cải thiện môi trường đầu tư… Chính phủ Việt Nam khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục đầu tư thông thoáng, nhanh gọn theo cơ chế “một cửa, tại chỗ”, giảm thiểu các quy định mang tính “xin-cho” hoặc “phê duyệt” bất hợp lý, không cần thiết, trái với nguyên tắc tự do kinh doanh, gây phiền hà cho hoạt động đầu tư nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư, kinh doanh. Trên cơ sở đó, một trong những mục tiêu chủ đạo khi ban hành Luật Đầu tư năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành là đơn giản hóa thủ tục hành chính, trong đó có việc cấp Giấy chứng nhận đầu tư. Dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy phép đầu tư cho chủ đầu tư khi đáp ứng đủ các điều kiện theo luật định và trong thời hạn quy định. Các nhà đầu tư sẽ được hướng dẫn cụ thể và giải đáp kịp thời những vướng mắc trong quá trình xin cấp Giấy phép đầu tư, nếu có.



Ghi chú:
- (1), (2), (8), (10): thực hiện tại UBND cấp huyện nơi có dự án (nếu dự án vốn trong nước có diện tích dưới 0,5 ha và vốn dưới 15 tỷ đồng VN): tại Sở Kế hoạch và Đầu tư (các dự án còn lại).
- (3), (9): thực hiện tại Sở Kế hoạch và Đầu tư.
- (4), (13): tại Sở Xây dụng (dự án FDI, dự án trong nước có quy mô hơn 0,5 ha, trên 15 tỷ đồng); UBND cấp huyện (các dự án trong nước có quy mô nhỏ hơn 0,5 ha và vốn dưới 15 tỷ đồng).
- (5), (12): thực hiện tại UBND cấp huyện đối với Đăng ký cam kết bảo vệ môi trường; tại sở Tài nguyên và Môi trường đối với Báo cáo đánh giá bảo vệ môi trường.
- (6), (11): thực hiện tại Sở Tài nguyên và Môi trường.
- Dự án thực hiện trong các Khu công nghiệp, Khu kinh tế, Khu công nghệ cao do Thủ tướng Chính phủ thành lập, thực hiện các thủ tục trên tại bộ phận một cửa thuộc Ban quản lý Khu.

Trình tự thực hiện các thủ tục
Bước 1: Đăng ký giới thiệu địa điểm đầu tư
1. Nhà đầu tư thực hiện thủ tục đăng ký giới thiệu địa điểm đầu tư để được giới thiệu địa điểm phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và quy hoạch phát triển ngành của tỉnh, trên cơ sở xem xét các yếu tố liên quan đến ngành nghề, diện tích, bảo vệ môi trường.
Cơ quan thẩm quyền giải quyết là Sở Kế hoạch và Đầu tư.
2. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ, thẩm quyền giải quyết và giao trả kết quả là Sở Kế hoạch và Đầu tư.
3. Thời gian giải quyết: không quá 15 ngày làm việc đối với dự án ngoài các Khu, cụm công nghiệp; 03 ngày làm việc đối với dự án trong các Khu công nghiệp, Khu kinh tế, Khu công nghệ cao, kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, không kể thời gian điều chỉnh, bổ sung hồ sơ.
Bước 2: Đăng ký doanh nghiệp
1. Nhà đầu tư trong nước thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
2. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ, thẩm quyền giải quyết và giao trả kết quả là Sở Kế hoạch và Đầu tư đầu tư
3. Thời gian giải quyết: không quá 07 ngày làm việc bao gồm thời gian khắc dấu doanh nghiệp, kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Bước 3: Thỏa thuận địa điểm đầu tư
Các dự án đầu tư vào các khu, cụm CN không thực hiện bước này.
1. Nhà đầu tư thực hiện thủ tục thỏa thuận địa điểm đầu tư để được chấp thuận địa điểm trên cơ sở xem xét các yếu tố liên quan đến  ngành nghề, diện tích, nguồn vốn, tiến độ thực hiện, tái định cư và bảo vệ môi trường.
2. Văn bản thỏa thuận địa điểm đầu tư là căn cứ để nhà đầu tư lập các thủ tục đầu tư kế tiếp.
3. Cơ quan thẩm quyền giải quyết là UBND cấp tỉnh.
4. Cơ quan nhận hồ sơ, thẩm tra và trả kết quả là Sở Kế hoạch và Đầu tư đầu tư.
5. Thời gian giải quyết: không quá 15 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Bước 4: Đăng ký đầu tư
Các dự án không quy định đăng ký đầu tư không thực hiện bước này.
1. Cơ quan thẩm quyền giải quyết là UBND cấp tỉnh đối với các địa điểm đầu tư ngoài các Khu công nghiệp, Khu kinh tế, Khu công nghệ cao; Ban quản lý đối với các địa điểm đầu tư trong các Khu công nghiệp, Khu kinh tế, Khu công nghệ cao.
2. Cơ quan nhận hồ sơ và giao trả kết quả
a. Sở Kế hoạch và Đầu tư đầu tư đối với địa điểm đầu tư ngoài các Khu, Cụm công nghiệp
b. Ban quản lý đối với địa điểm đầu tư trong các Khu công nghiệp, Khu kinh tế, Khu công nghệ cao.
3. Cơ quan xử lý hồ sơ: Sở Kế hoạch và Đầu tư; Ban quản lý.
4. Thời gian giải quyết: không quá 15 ngày làm việc đối với dự án ngoài các Khu công nghiệp, Khu kinh tế, Khu công nghệ cao, 03 ngày làm việc đối với dự án trong các Khu công nghiệp, Khu kinh tế, Khu công nghệ cao, kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Bước 5: Cấp Giấy chứng nhận đầu tư
1. Khi được thỏa thuận địa điểm đầu tư ở Bước 3, nhà đầu tư lập hồ sơ để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư hình thành pháp nhân và xác nhận hoạt động đầu tư của mình theo quy định của Luật Đầu tư.
2. Cơ quan thẩm quyền giải quyết: UBND cấp tỉnh; Ban quản lý.
3. Cơ quan nhận hồ sơ và giao trả kết quả là Sở Kế hoạch và Đầu tư đối với địa điểm đầu tư ngoài các khu, cụm công nghiệp; Ban quản lý đối với địa điểm đầu tư trong các Khu, Cụm công nghiệp.
4. Thời gian giải quyết không quá 15 ngày làm việc cho trường hợp đăng ký và 30 ngày làm việc cho trường hợp thẩm tra cấp Giấy chứng nhận đầu tư.
Bước 6: Thủ tục về quyền sử dụng đất
Nhà đầu tư thực hiện một trong 04 loại thủ tục sau:
1. Thủ tục giao đất đã giải phóng mặt bằng
2. Thủ tục giao đất chưa giải phóng mặt bằng
3. Thủ tục cho thuế đất đã giải phóng mặt bằng
4. Thủ tục cho thuê đất chưa giải phóng mặt bằng
Nội dung của từng loại thủ tục trên là:
a. Nhà đầu tư lập thủ tục đề nghị được giao hoặc cho thuê đất để thực hiện dự án sau khi đất thuộc diện thu hồi đã được thu hồi
b. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết là UBND cấp tỉnh
c. Cơ quan nhận hồ sơ, xử lý và giao trả kết quả là Sở Tài nguyên và môi trường.
d. Thời gian giải quyết: Từ 12 đến 20 ngày làm việc tùy từng loại thủ tục, kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Bước 7: Thủ tục về môi trường
1. Nhà đầu tư cần thiết lập Báo cáo đánh giá tác động của môi trường (ĐTM) hoặc Đăng ký cam kết bảo vệ môi trường theo quy định để được thẩm định hoặc cấp phiếu xác nhận cam kết bảo vệ môi trường làm cơ sở cho việc lập các thủ tục về sử dụng đất và nghiệm thu đưa công trình vào sử dụng.
2. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết là UBND cấp tỉnh đối với Báo cáo (ĐTM); UBND các huyện đối với Đăng ký cam kết bảo vệ môi trường; Ban quản lý đối với các dự án trong Khu công nghiệp, Khu kinh tế, Khu công nghệ cao.
3. Cơ quan nhận hồ sơ và giao trả kết quả là Sở Tài nguyên và Môi trường đối với Báo cáo (ĐTM); Văn phòng UBND cấp huyện đối với Đăng ký cam kết bảo vệ môi trường; Ban quản lý đối với các dự án trong Khu công nghiệp, Khu kinh tế, Khu công nghệ cao.
4. Thời gian giải quyết hồ sơ không quá 30 ngày làm việc đối với Báo cáo (ĐTM) và 5 ngày làm việc đối với Đăng ký cam kết bảo vệ môi trường, kể từ khi nhận đủ hồ sơ.
Bước 8: Thủ tục về xây dựng
i) Giấy phép xây dựng
1.1 Các dự án đầu tư vào các Khu, Cụm công nghiệp; các dự án đã phù hợp với mục đích sử dụng đất không thực hiện bước này
a. Nhà đầu tư có yêu cầu xây dựng công trình riêng lẻ của dự án đầu tư không là dự án khu dân cư, khu, cụm công nghiệp khu kinh tế… cần lập thủ tục đề nghị cấp Giấy phép xây dựng.
b. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết:
b.1. Sở Xây dựng cấp phép Xây dựng đối với các công trình:
- Cấp đặc biệt, cấp 1 theo phụ lục 01 Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày
16/12/2004 của Chính Phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng;
- Di tích lịch sử-văn hóa, tượng đài quảng cáo tranh hoành tráng;
- Các công trình trên các tuyến, trục đường chính đô thị thuộc cấp tỉnh quản lý.
b.2. UBND cấp huyện cấp phép Xây dựng các công trình còn lại.
1.2 Cơ quan nhận hồ sơ và giao trả kết quả:
a. Sở Xây dựng đối với công trình thuộc thẩm quyền của Sở Xây dựng.
b. Bộ phận một cửa của UBND cấp huyện đối với các công trình còn lại.
1.3 Thời gian giải quyết: không quá 10 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, không kể thời gian điều chỉnh, bổ sung hồ sơ.
ii)  Phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chi tiết xây dựng
Nhà đầu tư có yêu cầu xây dựng công trình không phải là các dự án đầu tư Khu, cụm công nghiệp cần lập thủ tục trình phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chi tiết.
a.  quan có thẩm quyền giải quyết
* UBND cấp tỉnh phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/2000 cho các khu chức năng của đô thị loại 3, quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000 và tỷ lệ 1/500 đối với các khu vực có phạm vi lập quy hoạch liên quan tới địa giới hành chính hai huyện trở lên, các khu chức năng khác ngoài đô thị (khu đô thị, khu du lịch, khu bảo tồn di sản, giáo dục đào tạo, y tế, công nghiệp địa phương…), các khu chức năng thuộc đô thị mới, các khu chức năng thuộc khu công nghệ cao, khu kinh tế
* UBND cấp huyện phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/2000 đối với các khu chức năng của đô thị loại 4, loại 5, quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 các khu chức năng của đô thị loại 3, loại 4, loại 5; nhiệm vụ quy hoạch điểm dân cư nông thôn sau khi được Hội đồng nhân dân cấp xã thông qua bằng nghị quyết và có tờ trình xin phê duyệt của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã).
b. Cơ quan nhận hồ sơ và giao trả kết quả là Sở Xây dựng hoặc UBND cấp huyện
c. Thời gian giải quyết: Không quá 30 ngày làm việc đối với đồ án thuộc thẩm quyền của UBND cấp tỉnh hoặc 20 ngày làm việc đối với  đồ án thuộc thẩm quyền của UBND cấp huyện, kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
iii) Phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng
Nhà đầu tư có yêu cầu xây dựng công trình dự án khu dân cư; khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế… cần lập thủ tục trình phê duyệt quy hoạch chi tiết.
a. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết:
* UBND cấp tỉnh phê duyệt các đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/2000 cho các khu chức năng của đô thị loại 3, quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000 và tỷ lệ 1/500 đối với các khu vực có phạm vi lập quy hoạch liên quan tới địa giới hành chính hai huyện trở lên, các khu chức năng khác ngoài đô thị (khu đô thị, khu du lịch, khu bảo tồn di sản, giáo dục đào tạo, y tế, công nghiệp địa phương…), các khu chức năng thuộc đô thị mới, các khu chức năng thuộc khu công nghệ cao, khu kinh tế;
* UBND cấp huyện phê duyệt đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/2000 đối với các khu chức năng của đô thị loại 4, loại 5, quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 các khu chức năng của đô thị loại 3, loại 4, loại 5; đồ án quy hoạch điểm dân cư nông thôn sau khi được Hội đồng nhân dân cấp xã thông qua bằng nghị quyết và có tờ trình xin phê duyệt của Ủy ban nhân dân cấp xã.
b. Cơ quan nhận hồ sơ và giao trả kết quả là Sở Xây dựng hoặc UBND cấp huyện
c. Thời gian giải quyết: Không quá 30 ngày làm việc đối với đồ án thuộc thẩm quyền của UBND cấp tỉnh hoặc 20 ngày làm việc đối với  đồ án thuộc thẩm quyền của UBND cấp huyện, kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
iv) Cấp quyền sở hữu công trình xây dựng
Nhà đầu tư có yêu cầu cấp quyền sở hữu công trình xây dựng cần lập thủ tục cấp quyền sở hữu công trình xây dựng.
4.1 Cơ quan có thẩm quyền giải quyết:
a. Sở Tài nguyên và Môi trường cho công trình xây dựng của tổ chức (bao gồm tổ chức trong nước và tổ chức nước ngoài).
b. UBND cấp huyện cho công trình xây dựng của cá nhân (bao gồm cá nhân trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài và cá nhân nước ngoài).
4.2 Cơ quan nhận hồ sơ và giao trả kết quả:
a. Sở Tài nguyên và Môi trường cho công trình xây dựng của tổ chức (bao gồm tổ chức trong nước và tổ chức nước ngoài).
b. UBND cấp huyện cho công trình xây dựng của cá nhân (bao gồm cá nhân trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài và cá nhân nước ngoài).
4.3 Thời gian giải quyết: Không quá 30 ngày kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

CÔNG TY TƯ VẤN VIỆT LUẬT

Trụ sở: Số 126 phố Chùa Láng, Q.Đống Đa, Hà Nội
ĐT: 04.3997.42.88 / 0965.999.345
Email: congtyvietluathanoi@gmail.com
Website: http://thanhlapdoanhnghieptrongoi.com

Gallery

Most Commented

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

2014 © Planer - Responsive Blogger Magazine Theme - Published By Gooyaabi Templates
Planer theme by Way2themes